video mạng phần cứng
Bìa và lời chú bản Gia phả họ Ngô Đáp Cầu do cụ NGÔ TRỌNG TỐ biên soạn năm 1877

Ngành thứ tám - Chi Ất

 

ĐỜI THỨ TÁM

NGÔ THẾ LƯƠNG, sinh năm 1809 (Kỷ Tỵ), thụy Thuần Cán, con thứ hai ông Ngô Thế Mỹ và bà Vũ Thị Bốn. Mất ngày 22 tháng 5 nhuận năm Đinh Tỵ (1857), hưởng dương 49 tuổi.
Bà : Hạ Thị Nhĩ (Hiên?), hiệu Thục Cung, sinh năm 1812. Mất ngày 07 (17?) tháng 4 nhuận năm Kỷ Dậu (1849) hưởng dương 38 tuổi.
Ông Bà sinh 3 trai : Thế Tiệm, Thế Sáng, Thế Khoán.

Đời thứ 9

Ngô Thế Tiệm, là con trưởng ông Ngô Thế Lương và bà Hạ Thị Nhĩ
Bà : .... Sinh 1 trai : Thế Thạch.tn pas cher
nike air max pas cher

Đời thứ 10

Ngô Thế Thạch, là con trưởng ông Ngô Thế Tiệm
Bà : Trương Thị Đẫy. Ông bà sinh 2 trai, 2 gái : Thế Chạm, Thế Hãng, Thị ... (Bà Sạ), Thị Vượng (bà Hai Hạch).

Đời thứ 11

Ngô Thế Chạm (Hội Chạm), sinh năm 1884, là con trưởng ông Ngô Thế Thạch và bà Trương Thị Đẫy. Mất ngày 19-3 năm Canh Tý (1960), thọ 77 tuổi. Sinh thời ông là Phó hương hội trong làng, làm thầu khoán và buôn bán.
: Nguyễn Thị Nhớn, người cùng làng, con gái Ông Lý trưởng Nguyễn Văn Bộ. Bà mất sớm, không có con. (Bà là chị ruột ông Huấn Dự họ Nguyễn).
Bà hai : Trần Thị An, người làng Tiêu, Bắc Ninh. Sinh 3 trai, 4 gái : Thị Khuôn, Thế Duông, Thị Nếp, Thị Nết,  Thị Na, Thế Nùng, Thế Lãng.
   -    Ngô Thị Khuôn lấy ông Vũ Đình Hạo, thầy giáo, người cùng làng. Sinh 4 trai, 1 gái : Vũ Đình Uông (Bác sỹ), Vũ Đình Hộ, Vũ Đình Hiệp, Vũ Đình Phán (đều là kỹ sư), Vũ Thị Phú.
   -    Ngô Thị Nếp lấy ông Nguyễn Cát Tường, người Thị Cầu. Ông nguyên là Đổng lý văn phòng Bộ Giáo dục. Sinh Nguyễn Cát Bình Chánh thanh tra Bộ Giao Thông, Nguyễn Cát Giao Vụ trưởng Vụ quốc tế và kế hoạch - Bộ Lâm nghiệp, Nguyễn Cát Hồ Tiến sỹ toán, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Thị Nga.
   -    Ngô Thị Nết lấy ông Nghiêm Xuân Bính.
   -    Ngô Thị Na lấy ông Nguyễn Mậu Hanh .

Đời thứ 12

Ngô Thế Duông, sinh năm 1910, con trai trưởng ông Ngô Thế Chạm và bà Trần Thị An. Mất ngày 26-4 năm Kỷ Dậu (1969), thọ 60 tuổi. Ông nguyên là tham biện ngành vô tuyến điện,  nguyên Giám đốc Sở Vô tuyến điện Việt Nam
: Mai Thị Đoan. Mất ngày 03-3 năm Giáp Thân (1944). Sinh 1 trai : Thế Thinh.
Bà kế : Nguyễn Mỵ Dung. Sinh 2 gái, 1 trai : Hương Nhu, Thúy Trầm, Thế Huy.  
   -    Ngô Hương Nhu, Phó giáo sư, tiến sỹ toán học. Chồng là Lê Hùng kỹ sư vô tuyến điện.
   -    Ngô Thúy Trầm, kỹ sư vô tuyến điện, Cục phó Cục tần số. Chồng là Phan Hiệp, kỹ sư xây dựng

Đời thứ 13

Ngô Thế Thinh, Giáo viên Địa lý, sinh năm 1933, con trưởng ông Ngô Thế Duông và bà Mai Thị Đoan.
Bà : Nguyễn Thị Hân. Sinh 1 gái, 1 trai : Thiên Hương, Thế Anh.
   -    Ngô Thiên Hương, bác sỹ, sinh năm 1961. Chồng là Huỳnh Hoà Bình, kỹ sư.
Bà kế : Đặng Tường Vân. Sinh 1 trai : Thế Quân.

Đời thứ 14

Ngô Thế Anh, kỹ sư mỏ địa chất, sinh năm 1961, con trai trưởng ông Ngô Thế Thinh và bà Nguyễn Thị Hân
Bà : Nguyễn Thị Hiếu. Sinh 2 trai : Thế Dũng, Thế Đạt.

Đời thứ 14

Ngô Thế Quân, họa sỹ mỹ thuật công nghiệp, sinh năm 1974, con trai thứ hai ông Ngô Thế Thinh và bà Đặng Tường Vân.

Đời thứ 13

Ngô Thế Huy, kỹ sư cơ khí, sinh năm 1959, con trai ông Ngô Thế Duông và bà Nguyễn Mỵ Dung.
Bà : Đặng Thị Phúc. Sinh 2 gái : Hà Nhi, Hà Vi.

Đời thứ 12

Ngô Thế Nùng, Đại tá Quân đội, Phó Giáo sư, Giảng viên Học viện Kỹ thuật Quân sự, con trai thứ hai ông Ngô Thế Chạm và bà Trần Thị An.
Bà : Trần Thị Phương, bí danh Hoàng Thị Phương Liên, sỹ quan quân đội.
Ông Bà sinh 4 trai, 1 gái : Việt Trung, Hoàng Hà, Hoàng Hải, Phương Lan, Việt Phương
   -    Ngô Phương Lan. Chồng là Lê Quang

Đời thứ 13

Ngô Việt Trung, con trưởng ông Ngô Thế Nùng và bà Trần Thị Phương
Bà : Đỗ Thị Điều Liên. Sinh 2 gái : Diệu Linh, Diệu Hương.

Đời thứ 13

Ngô Hoàng Hà, kỹ sư, con ông Ngô Thế Nùng và bà Trần Thị Phương
Bà : Trần Thị Lan. Sinh 1 gái, 1 trai : Phương Dung, Thế Vinh

Đời thứ 13

Ngô Hoàng Hải, con thứ ba ông Ngô Thế Nùng và bà Trần Thị Phương.
Bà : Nguyễn Thị Bích Hà. Sinh 1 trai : Việt Dũng.

Đời thứ 13

Ngô Việt Phương, kiến trúc sư, con út ông Ngô Thế Nùng và bà Trần Thị Phương.

Đời thứ 12

Ngô Thế Lãng, con út ông Ngô Thế Chạm. Ông là Đại tá, nguyên Cục phó Cục Chính trị Hải quân, nguyên Giám đốc Nhà văn hoá Hải quân. Bị bệnh hiểm nghèo đã mất khi còn tại ngũ.
Bà : Nguyễn Thị An, cán bộ Công ty giao nhận Y cụ Hải Phòng, đã nghỉ hưu. Sinh 1 gái, 2 trai : Hà Quế, Phương Vũ, Thế Phương.
Ngô Hà Quế, chồng là … Tường.

Đời thứ 13

Ngô Phương Vũ, con trai trưởng ông Ngô Thế Lãng và bà Nguyễn Thị An. Công tác tại Công ty nạo vét đường biển Hải Phòng.
Bà : … Thu, công nhân Xí nghiệp Giày dép số 1 Hải Phòng. Sinh 1 gái, 1 trai : Thuỳ Linh, Phương Nam.

Đời thứ 13

Ngô Thế Phương, sĩ quan Hải quân, con trai thứ hai ông Ngô Thế Lãng và bà Nguyễn Thị An.

Đời thứ 11

Ngô Thế Hãng, con thứ hai ông Ngô Thế Thạch và bà Trương Thị Đẫy. Sinh thời Ông là chủ sự bưu điện.
Bà : Hạ Thị Tự, người cùng làng. Sinh 1 gái, 4 trai: Thị Sâm (chết trẻ), Thế Tẩm, Thế Tý, Thế Nhung, Thế Hồng.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tẩm, con trưởng ông Ngô Thế Hãng và bà Hạ Thị Tự
Bà : Vũ Thị Nhung, con ông Vũ Đình Bồn và bà Nguyễn Thị Lữ, người cùng làng. Sinh 1 trai, 1 gái : Thế Phú, Thị Liên.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tý, con thứ hai ông Ngô Thế Hãng và bà Hạ Thị Tự.
Vũ Thị Từ, con ông Vũ Đình Phang và bà Mai Thị Tư, người cùng làng. Sinh 2 trai : Mạnh Dũng, Việt Cường.

Đời thứ 13

Ngô Mạnh Dũng, sinh năm 1943, con trưởng ông Ngô Thế Tý và bà Vũ Thị Từ. Mất tháng Chạp năm Đinh Dậu (1/2008) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà : Phan Thị Nam. Sinh 2 trai : Mạnh Hà, Mạnh Quỳnh.

Đời thứ 13

Ngô Việt Cường, con thứ hai ông Ngô Thế Tý và bà Vũ Thị Từ
Bà : Đặng Thuý Nga. Sinh 1 trai : Việt Hoàng.

Đời thứ 12

Ngô Thế Nhung, con thứ ba ông Ngô Thế Hãng và bà Hạ Thị Tự.
Bà : Nguyễn Thuý Loan sinh 2 gái, 1 trai : Thuỳ Dung, Mạnh Hưng, Thuỳ Dương.

Đời thứ 13

Ngô Mạnh Hưng, con trai duy nhất ông Ngô Thế Nhung và bà Nguyễn Thuý Loan.
Bà : Nguyễn Thu Huyền. Sinh 1 trai : Thế Thịnh.

Đời thứ 12

Ngô Thế Hồng, con thứ tư (út) ông Ngô Thế Hãng và bà Hạ Thị Tự.
Bà : Nguyễn Thị Tú. Sinh 4 trai, 2 gái : Mạnh Tuấn, Thuý Hạnh, Thanh Phúc, Quốc Hanh, Trọng Bình, Quang Minh.
   -     Ngô Thuý Hạnh lấy chồng là Lê Văn Hồng
   -     Ngô Thanh Phúc lấy chồng là Trần Văn Thạnh

Đời thứ 13

Ngô Mạnh Tuấn, con trưởng ông Ngô Thế Hồng và bà Nguyễn Thị Tú.

Đời thứ 13

Ngô Quốc Hanh, con trai thứ hai ông Ngô Thế Hồng và bà Nguyễn Thị Tú.
Bà : Nguyễn Thị Minh Thuỷ. Sinh 2 gái: Thu Thảo, Thu Hương.

Đời thứ 13

Ngô Trọng Bình, con trai thứ ba ông Ngô Thế Hồng và bà Nguyễn Thị Tú. 
Bà: Trần Thu Hương. Sinh 1 gái : Thuỳ Ly.

Đời thứ 13

Ngô Quang Minh, con trai thứ tư (út) ông Ngô Thế Hồng và bà Nguyễn Thị Tú.
Bà : Lê Thị Bình. Sinh 1 gái, 1 trai: Thị Thắng, Thế Quang.

Đời thứ 9

Ngô Thế Sáng (còn gọi là Bá Hai), thuỵ Thuần Lãng, con trai thứ hai ông Ngô Thế Lương và bà Hạ Thị Nhĩ. Ông được thưởng Cửu phẩm Bá hộ. Ngày giỗ 21-3. Mộ táng tại Bãi Chùa, nay không còn.
Bà : Trần Thị Tung, hiệu Diệu Hoành, là chị cả mẹ ông Hạ Bá Cang. Mộ táng tại Phù Lãng, Huyện Quế Dương, nay không còn. Sinh 2 trai, 5 gái: Thị Tấu, Trọng Túc, Thị Sắt, Thị Đanh, Thị Tỉn, Thế Đĩnh, Thị Ngọt.
   -     Ngô Thị Tấu, chồng là Đỗ Văn Toan. Sinh 4 trai, 2 gái : Đỗ Giáp, Đỗ Tuân, Đỗ Bẩy, Đỗ Tám, Đỗ Thị Liên, Đỗ Thị Sức.
   -     Ngô Thị Sắt, chồng là Trương Trọng Hới. Sinh 3 gái, 1 trai : bà Ngói, Ông Gạch, bà Ty Mân, bà Đoàn.
   -     Ngô Thị Đanh, chồng là Trương Ngọc Nghệ. Sinh 1 gái, 1 trai : bà Son, ông Năm Chè.
   -     Ngô Thị Tỉn, chồng là Vũ Quang Sáng. Sinh 5 trai : Vũ Quang Tăng (Cai Lui), Vũ Quang Tằng, Vũ Quang Đãng, Vũ Quang Hữu, Vũ Quang Sáu.
   -     Ngô Thị Ngọt, chồng là Nguyễn Văn Phác (Hàn Phác). Sinh 1 gái : Nguyễn Thị Thảo.

Đời thứ 10

Ngô Trọng Túc, thụy Phúc Nghiêm, sinh năm 1872, là con trai trưởng ông Ngô Thế Sáng và bà Trần Thị Tung. Mất ngày 06-9 năm Canh Thìn (1940), thọ 69 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối, Đáp Cầu. Sinh thời ông làm nghề thầu khoán và được thưởng Cửu phẩm Bá hộ.
Bà : Nguyễn Thị Cảnh, hiệu Diệu Đạt, sinh năm 1871, người cùng làng, con gái ông Xã Hạp. Mất ngày 06-9 năm Tân Mão (1951), thọ 81 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối, Đáp Cầu. Sinh 3 gái, 4 trai: Thị Cháu, Thế Ban, Thị Mỏng, Thế Dân, Thế Vũ, Thị Sáu,  Thế Ngân.
Bà hai : Lưu Thị Luyến, hiệu Thục Hiền, quê Đông Quan, Kinh Môn, Hải Dương. Mất ngày 20-8. Mộ táng ở quê. Sinh 1 trai, 1 gái : Thế Tám, Thị Cháu.
   -     Ngô Thị Châu (1891-1971), chồng là Vũ Đình Thích (1889-1960), con ông Vũ Đình Thông, người cùng làng. Sinh 3 gái, 1 trai: Vũ Thị Lợi (1917-1975), Vũ Đình Lộc (1920-1965, vợ Đỗ Thị Thu), Vũ Thị Luân (1925, chồng Ngô Thế Dũng), Vũ Thị Tường (1928-1958, chồng Hạ Bá Nhuận).
   -     Ngô Thị Mỏng, hiệu Diệu Thu. Mất ngày 17-9. Bà không lấy chồng, đi tu ở chùa Gốc Khế, Nhã Nam, Bắc Giang. Mộ táng tại Nhã Nam.
   -     Ngô Thị Sáu, chồng là Tô Cường. Sinh 2 gái : Tô Thị Phi, Tô Thị Phàn.
   -     Ngô Thị Đính, còn gọi là Thị Chín (1911-1995). Chồng là Nguyễn Quốc Văn. Sinh 1 gái: Nguyễn Thị Ái.

Đời thứ 11

Ngô Thế Ban, thuỵ Phúc Liên, sinh năm 1894, con trưởng ông Ngô Trọng Túc và bà Nguyễn Thị Cảnh. Mất ngày 05-10 năm Bính Thân (1956), thọ 63 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối, Đáp Cầu.
Bà : Hạ Thị Trung, người cùng làng. Sinh 1 trai : Thế Phát
Bà hai : … quê Đò Lèn,Thanh Hoá. Sinh 1 trai : Thế Đạt.
Bà ba : Nguyễn Thị Nga, hiệu Diệu Ngà, quê Làng Nành, Vinh Hiệp, Gia Lâm. Sinh 4 trai: Thế Phùng, Thế Tải, Thế Tường, Thế Đại.

Đời thứ 12

Ngô Thế Phát, thuỵ Trực Giác, sinh năm 1913, con trưởng ông Ngô Thế Ban và bà Hạ Thị Trung. Mất ngày 22-10 năm Ất Dậu (1945), hưởng dương 33 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối, Đáp Cầu. Sinh thời Ông mở Xưởng gỗ ở Việt Trì.
Bà : Hồ Thị Hồi, sinh năm 1915, quê Thị Cầu, Bắc Ninh. Mất ngày 27 tháng Chạp năm Canh Thìn (21-01-2001), thọ 87 tuổi. Mộ táng tại Hoa Kỳ. Sinh 1 gái, 5 trai: Thị Băng, Thế Lâm (1939, mất sớm), Thế Hùng, Thế Kiệt, Thế Tuấn (1943, mất sớm), Thế Hào.
   -     Ngô Thị Băng, sinh năm 1936, lấy chồng có 2 con trai đang ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Đời thứ 13

Ngô Thế Hùng, sinh năm 1941, con trai thứ hai ông Ngô Thế Phát và bà Hồ Thị Hồi.
Bà : Phan Thị Bê. Sinh 3 trai, 1 gái : Thế Việt, Thế Hưng (Anh), Thế Quốc, Thị Nam.
Gia đình hiện sinh sống ở Hoa Kỳ.

Đời thứ 13

Ngô Thế Kiệt, con trai thứ ba ông Ngô Thế Phát và bà Hồ Thị Hồi.
Bà : Đông Tiểu Niên, người gốc Hoa. Sinh 1 gái : Đông Lan.
Gia đình hiện sinh sống ở Hoa Kỳ.

Đời thứ 13

Ngô Thế Hào, sinh năm 1945, con trai út ông Ngô Thế Phát và bà Hồ Thị Hồi.
Ngô Thị Cửu, quê Quảng Bình. Sinh 3 gái, 1 trai : Hoài Nam, Thị Hoàng, Hoàng Anh, Hoàng Minh.
Gia đình hiện sinh sống ở Hoa Kỳ.

Đời thứ 12

Ngô Thế Đạt, sinh năm 1929, con trai thứ hai ông Ngô Thế Ban và bà ... Ông là Liệt sĩ, hy sinh trong Kháng chiến chống Pháp. Chưa có vợ con.

Đời thứ 12

Ngô Thế Phùng, sinh ngày 18-11-1932, con trai thứ ba ông Ngô Thế Ban và bà Nguyễn Thị Nga. Ông là Kỹ sư chế tạo máy.
Bà : Hạ Thị Mười, sinh năm 1935, người cùng làng. Sinh 4 trai, 1 gái: Thế Phụng, Thế Lân, Thế Long, Thế Dũng, Thuỳ Linh (1978).
   -     Ngô Thuỳ Linh, sinh năm 1978, cử nhân Sư phạm Ngoai ngữ (tiếng Anh)

Đời thứ 13

Ngô Thế Phụng, sinh năm 1957, con trưởng ông Ngô Thế Phùng và bà Hạ Thị Mười. Thương binh hạng 1-4.
Bà : Trần Thuý Hạnh, sinh năm 1962, quê Hà Nội, là cử nhân sư phạm. Sinh 1 trai : Thế Hưng (1991).

Đời thứ 13

Ngô Thế Lân, sinh năm 1959, con thứ hai ông Ngô Thế Phùng và bà Hạ Thị Mười.
Bà : Vũ Hải Yến, sinh năm 1962. Sinh 1 gái : Phương Thảo (1988).

Đời thứ 13

Ngô Thế Long, sinh năm 1962, con thứ ba ông Ngô Thế Phùng và bà Hạ Thị Mười.

Đời thứ 13

Ngô Thế Dũng, sinh năm 1964, con trai thứ tư ông Ngô Thế Phùng và bà Hạ Thị Mười.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tải, thuỵ Phúc Hải, sinh năm 1935, con trai thứ tư ông Ngô Thế Ban và bà Nguyễn Thị Nga. Mất năm 2000, thọ 66 tuổi. Ông là Kỹ sư nông nghiệp. Sinh thời là Trưởng phòng Nông nghiệp Thị xã Bắc Ninh.
Bà : Trần Thị Chi, sinh năm 1938, quê Chợ Trục, Yên Phong, Bắc Ninh. Sinh 2 trai, 2 gái : Sơn Hà (1963), Quốc Nhị (1968?), Hải Yến (1968), Hoàng Oanh (1974).
   -     Ngô Hải Yến, kỹ sư hoá thực phẩm
   -     Ngô Hoàng Anh, cử nhân ngoại ngữ tiếng Anh, giáo viên Trường Trung cấp Nông nghiệp Bắc Giang. Chồng con ở Bắc Giang.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tương (còn gọi là Thế Tường), sinh năm 1938, con trai thứ năm ông Ngô Thế Ban và bà Nguyễn Thị Nga. Ông là Kỹ sư cơ khí đã nghỉ hưu.
Bà : Nguyễn Huệ Ngân, sinh năm 1939, quê ở Bình Đà, Hà Tây. Bà là Kỹ sư điện khí hoá xí nghiệp đã nghỉ hưu. Sinh 3 trai : Thế Quân, Thế Quyền, Thế Hiếu.

Đời thứ 13

Ngô Thế Quân, sinh năm 1965, con trưởng ông Ngô Thế Tường và bà Nguyễn Huệ Ngân. Ông là kỹ sư ôtô máy kéo.
Bà : Trần Thị Nhung, sinh năm 1973, thạc sỹ ngoại ngữ tiếng Anh. Sinh 1 gái : Thị Khánh Quyên (1997).

Đời thứ 13

Ngô Thế Quyền, sinh năm 1968, con thứ hai ông Ngô Thế Tường và bà Nguyễn Huệ Ngân. Ông tốt nghiệp Đại học an ninh,ngành Phòng cháy chữa cháy.
Bà : Bùi Thị Kim Thanh, sinh 1969. Sinh 1 gái, 1 trai : Ngọc Quỳnh (1992), Thế Thành (1999).

Đời thứ 13

Ngô Thế Hiếu, sinh năm 1977, con thứ ba ông Ngô Thế Tường và bà Nguyễn Huệ Ngân. Ông là cử nhân kinh tế ngoại thương.

Đời thứ 12

Ngô Thế Đại, sinh năm 1941, con trai thứ sáu (út) ông Ngô Thế Ban và bà Nguyễn Thị Nga. Ông là kỹ sư cầu đường, nguyên Trưởng phòng thiết kế cầu Thăng Long, đã nghỉ hưu.
Bà : Bùi Như Minh, sinh năm 1949. Mất ngày 28 tháng Giêng năm Ất Hợi (1995). Sinh 1 trai: Thế Hoàng.

Đời thứ 13

Ngô Thế Hoàng, thạc sỹ kinh tế, sinh năm 1974, con trai duy nhất ông Ngô Thế Đại và bà Bùi Như Minh.
Bà : Nguyễn Thị Thu Hường, cử nhân luật, sinh năm 1974. Sinh 1 trai: Thế Anh Khoa (1999)

Đời thứ 11

Ngô Thế Dân, thuỵ Thần Cẩm, sinh năm 1905, con trai thứ hai ông Ngô Trọng Túc và bà Nguyễn Thị Cảnh. Mất ngày 08-3 năm Ất Dậu (1945). Sinh thời, Ông tốt nghiệp Trường Kỹ nghệ thực hành Hải Phòng.
Bà : Nguyễn Thị Loan, hiệu Diệu Phượng, sinh năm 1910. Mất năm 1996, thị 87 tuổi. Sinh thời, bà là giáo viên Trường tiểu học Thị Cầu. Sinh 1 gái : Thị Định.
   -     Ngô Thị Định. Sinh năm 1935. Chồng là Hạ Bá Tám, người cùng làng.

Đời thứ 11

Ngô Thế Vũ, thuỵ Thuần Quang, con thứ ba ông Ngô Trọng Túc  và bà Nguyễn Thị Cảnh. Mất ngày 07-10. Sinh thời ông làm nghề khai thác lâm sản.
Bà : Vũ Thị Tý, hiệu Diệu Ty, người cùng làng. Mất ngày 19-11 năm Bính Dần (20-12-1996). Mộ ông bà mai táng tại Đồng Bối, Đáp Cầu. Sinh 4 gái, 1 trai: Thị Vân, Thị Vi, Thị Quy, Thị Tứ, Thế Phách.
   -     Ngô Thị Vân, sinh năm 1931. Mất 01-10 năm Mậu Thân (1968). Chồng là Nguyễn Thuận, có 1 con trai.
   -     Ngô Thị Vi, sinh năm 1934. Chồng là Lâm Thân, quê Bắc Giang.
   -     Ngô Thị Quy, sinh năm 1936. Chồng họ Hoàng Kim cùng quê.
   -     Ngô Thị Tứ, sinh năm 1938, lấy chồng ở miền Nam.
Bà hai : Đinh Thị Nớp, quê Bắc Mục, Tuyên Quang. Đã mất. Sinh 1 gái: Thị Tuyên.
   -     Ngô Thị Tuyên, sinh năm 1944, kỹ sư vô tuyến điện. Chồng là Phương Đình Nhàn, cán bộ giảng dạy Trường Đại học Bách khoa, Hà Nội.

Đời thứ 12

Ngô Thế Phách, sinh năm 1945, con trai duy nhất ông Ngô Thế Vũ và bà Vũ Thị Tý. Mất ngày 02-10 năm Giáp Tý (1984), hưởng dương 40 tuổi. Ông đã tốt nghiệp Đại học tổng hợp Văn và công tác tại Toà soạn Báo Quân đội nhân dân.
Bà : Phan Thị Hậu, sinh năm 1950, quê Tây Hồ, Hà Nội. Sinh 1 trai : Thế Minh.

Đời thứ 13

Ngô Thế Minh, sinh năm 1977, cử nhân luật, con trai duy nhất ông Ngô Thế Phách và bà Phan Thị Hậu.

Đời thứ 11

Ngô Thế Ngân, thuỵ Phúc Minh, con thứ tư ông Ngô Trọng Túc và bà Nguyễn Thị Cảnh. Mất ngày 15-10.
Bà : Nguyễn Thị Bông, hiệu Diệu Sợi, sinh năm 1910. Mất ngày 23-9 năm Quý Mùi (18-10-2003), thọ 94 tuổi. Mộ Ông bà đều táng tại Đồng Bối, Đáp Cầu. Sinh 5 gái : Thị Kim, Thị Liên, Thị Khánh, Thị Thành, Thị Tuyết.
Ông Bà có một con nuôi : Thế Tường, người làng Giới Tế, Yên Phong, Bắc Ninh.

Đời thứ 11

Ngô Thế Tám, thuỵ Trực Tâm, sinh năm 1915, con thứ năm ông Ngô Trọng Túc và bà Lưu Thị Luyến. Mất ngày 18-6 năm Mậu Dần (16-7-1938). Sinh thời Ông làm công chức ngành hoả xa.
Bà : Nguyễn Thị Khuê, hiệu Diệu Phòng. Ông mất sớm, bà ở vậy không tái giá, không có con.
Ông có con riêng là : Thế Tính.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tính, sinh năm 1936, con riêng duy nhất của ông Ngô Thế Tám. Mất ngày 22-02 năm Kỷ Mão (08-4-1999), thọ 54 tuổi.
Dương Thị Bột, sinh năm 1935, quê Nhã Nam, Yên Thế, Bắc Giang. Sinh 4 trai, 3 gái: Thế Quỳnh, Thế Sơn, Thế Thuỷ, Thị Ngân, Thế Hà, Thị Bắc, Thị Nam.
   -     Ngô Thị Ngân, sinh năm 1965, chồng là Dương Văn Khải (mất năm 2002).
   -     Ngô Thị Bắc, sinh năm 1970, chồng là Vũ Văn Lịch, sinh năm 1969.
   -     Ngô Thị Nam, sinh năm 1972, chồng là Dương Văn Thắng.

Đời thứ 13

Ngô Thế Quỳnh, sinh năm 1958, con trai trưởng ông Ngô Thế Tính và bà Dương Thị Bột. Ông tốt nghiệp Đại học An Ninh, hiện là Bộ đội biên phòng Lạng Sơn.
Bà : Dương Thị Hảo, sinh năm 1968. Sinh 1 trai, 1 gái : Hồng Quân (1990), Hồng Nhung (1996).

Đời thứ 13

Ngô Thế Sơn, sinh năm 1960, con trai thứ hai ông Ngô Thế Tính và bà Dương Thị Bột.
Lê Thị Huệ, sinh năm 1963. Sinh 2 gái : Thị Huệ (1991), Thị Trang (1997).

Đời thứ 13

Ngô Thế Thuỷ, sinh năm 1963, con trai thứ ba ông Ngô Thế Tính và bà Dương Thị Bột.
Bà : Đỗ Thị Ngà, sinh năm 1969. Sinh 2 gái : Thị Giang (1993), Thị Linh (1998).

Đời thứ 13

Ngô Thế Hà, sinh năm 1968, con trai thứ tư ông Ngô Thế Tính và bà Dương Thị Bột.
Bà : Đặng Thị Lan, sinh 1970. Sinh 1 gái, 1 trai : Thị Hạnh (1995), Tế Long (2000)
Các gia đình con ông Tính đều sống ở Nhã Nam, Yên Thế, Bắc Giang.

Đời thứ 10

Ngô Thế Đĩnh (ông Hai Đĩnh), con trai thứ hai ông Ngô Thế Sáng và bà Trần Thị Tung.
Bà : Trần Thị Được, người làng Phù Lãng. Sinh 5 trai, 2 gái, Thế Dượng, Thế Kiền, Thế Khuê, Thế Khổn, Thế Năm, Thị Cầm, Thị Kỳ.
Đời thứ 11
Ngô Thế Dượng, con trưởng ông Ngô Thế Đĩnh và bà Trần Thị Được. Ông từng là Tự vệ Kháng chiến ở Đáp Cầu, sau công tác tại Huyện đội Quế Dương. Ông bị Pháp bắt và hy sinh khi giết lính dẫn giải trên đường đi làm phu.
Bà : Nguyễn Thị Trừ, người làng Phù Lãng. Sinh 3 trai, 3 gái: Thế Phương, Thế Lãng, Thế Phòng, Thị Phi, Thị Phô, Thị Bình.

Đời thứ 12

Ngô Thế Phương, tiến sỹ y khoa, con trưởng ông Ngô Thế Dượng và bà Nguyễn Thị Trừ. Năm 1945, Ông tham gia tự vệ ở Đáp Cầu, sau tham gia quân đội. Ông đã là Vụ trưởng Vụ Tổ chức Bộ Y tế.
Bà : Phạm Thị Thanh, người làng Phù Lãng. Ông bà sinh 3 gái : Thúy Lan, Thanh Nga, Thanh An.

Đời thứ 12

Ngô Thế Lãng, con trai thứ 2 ông Ngô Thế Dương và bà Nguyễn Thị Trừ.
Bà : Trịnh Thị Nga, người Thị Cầu. Sinh 3 trai, 2 gái : Thế Sơn, Thế Tùng, Thế Dương, Thị Mai, Thị Liễu.

Đời thứ 12

Ngô Thế Phòng, con trai thứ 3 ông Ngô Thế Dượng và bà Nguyễn Thị Trừ. Ông tham gia quân đội, chiến đấu ở chiến trường Miền Nam, hy sinh năm 1973. Chưa có vợ con.

Đời thứ 11

Ngô Thế Kiền, con thứ hai ông Ngô Thế Đĩnh và bà Trần Thị Được.
Bà : Vũ Thị Vân, người cùng làng. Sinh 4 trai: Thế Thành, Thế Sùng (Liệt sỹ), Thế Anh, Thế Diệm (chết trẻ).
Bà hai : Cao Thị Yên. Sinh 3 trai, 3 gái: Thế Dũng, Thế Ngọc, Thế Ngà,  Thị Liên,  Thị Mai, Thị Trâm.

Đời thứ 12

Ngô Thế Thành, con trưởng ông Ngô Thế Kiền và bà Vũ Thị Vân
Bà là : ... Nhung.

Đời thứ 12

Ngô Thế Sùng, con trai thứ hai ông Ngô Thế Kiền và bà Vũ Thị Vân.
Ông là liệt sỹ trong kháng chiến chống Pháp. Không có vợ con.

Đời thứ 12

Ngô Thế Anh, con trai thứ ba ông Ngô Thế Kiền và bà Vũ Thị Vân.
Bà : .... Sinh 1 trai, 2 gái : Thế Minh, Thị Mỹ, Thị Nhật.

Đời thứ 12

Ngô Thế Dũng, con trai thứ tư ông Ngô Thế Kiền và bà Cao Thị Yên.
Bà : .... Sinh 2 trai, 1 gái : Thế Quân, Thế Cường, Thu Trang.

Đời thứ 12

Ngô Thế Ngọc, con trai thứ năm ông Ngô Thế Kiền và bà Cao Thị Yên.
Bà : Lê Thị Hòa. Sinh 2 trai, 3 gái : Thế Quyến, Thế Việt, Thị Hân, Thị Yên, Thị Tâm.

Đời thứ 12

Ngô Thế Ngà, con trai thứ sáu ông Ngô Thế Kiền và bà Cao Thị Yên.
Bà : Trần Thị Luân. Sinh 3 trai, 1 gái : Thế Hùng, Thế Sơn, Thế Nam, Thu Hương.

Đời thứ 11

Ngô Thế Khuê, con thứ ba ông Ngô Thế Đĩnh và bà Trần Thị Được. Sinh thời, ông buôn bán gỗ. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông là Huyện đội trưởng huyện Võ Giàng. Ông đã hy sinh trong một trận chống càn.
Bà : Vũ Thị Thảo, người cùng làng. Sinh 2 gái: Thị Nga, Thị Tuyết.
Bà hai : Vũ Thị Nhung, người cùng làng. Sinh 1 gái: Thị Thục.

Đời thứ 11

Ngô Thế Khổn, con thứ tư ông Ngô Thế Đĩnh và bà Trần Thị Được.
Bà : Vũ Thị Tý, người cùng làng. Sinh 4 trai: Thế Vĩnh, Thế Định, Thế Cát, Thế Đồng.

Đời thứ 12

Ngô Thế Vĩnh, con trưởng ông Ngô Thế Khổn và bà Vũ Thị Tý.
Bà : Phạm Thị Nga. Sinh 1 trai, 2 gái : Thế Tuệ, Thị Thúy, Thị Thu.

Đời thứ 12

Ngô Thế Định, con thứ hai ông Ngô Thế Khổn và bà Vũ Thị Tý.
Bà : Nguyễn Thị Công. Sinh 1 trai, 2 gái : Thế Sơn, Thị Hà, Thị Hiền.

Đời thứ 12

Ngô Thế Cát, con thứ ba ông Ngô Thế Khổn và bà Vũ Thị Tý.
Bà : Nguyễn Thị Yến. Sinh 2 gái : Thị Lan, Thị Linh.

Đời thứ 12

Ngô Thế Đồng, con thứ tư (út) ông Ngô Thế Khổn và bà Vũ Thị Tý.
Ông là Liệt sỹ, hy sinh trong Kháng chiến chống Pháp. Chưa có vợ con.

Đời thứ 11

Ngô Thế Năm, con thứ năm (út) ông Ngô Thế Đĩnh và bà Trần Thị Được. Sinh thời, ông bà buôn bán ở Nam Định, sau về buôn bán ở Bắc Ninh.
Bà : Vũ Thị Bảo, người cùng làng. Sinh 5 trai, 2 gái : Thế Long, Thế Quang, Thế Tiếp, Thế Tế, Thế Thắng, Thị Từ, Thị Thư.

Đời thứ 12

Ngô Thế Long, kỹ sư xây dựng, con trai trưởng ông Ngô Thế Năm và bà Vũ Thị Bảo.
Bà : Nhữ Thị Xuân. Sinh 1 trai, 1 gái : Thế Lân, Thị Lan.

Đời thứ 12

Ngô Thế Quang, tiến sỹ, con trai thứ hai ông Ngô Thế Năm và bà Vũ Thị Bảo. Ông là Giảng viên Đại học thương nghiệp.
Bà : Lê Thị Lương. Sinh 2 trai, 1 gái : Thế Quỳnh, Thế Quân, Thị Chi.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tiếp, kỹ sư xây dựng, con trai thứ ba ông Ngô Thế Năm và bà Vũ Thị Bảo. Ông công tác tại Cục Đường biển.
Bà : Phạm Thị Lương, giáo viên Trường PTCS Ngô Quyền, Hải Phòng. Sinh 1 trai, 1 gái : Thế Phong, Thị Thu.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tế, con thứ tư  ông Ngô Thế Năm và bà Vũ Thị Bảo.
Bà : Nguyễn Thị Hiền. Sinh 2 trai, 1 gái : Thế Hải, Thế Hưng, Thị Hương.

Đời thứ 12

Ngô Thế Thắng, kỹ sư, con thứ năm (út) ông Ngô Thế Năm và bà Vũ Thị Bảo. Ông công tác tại Nhà máy kính Đáp Cầu.
Bà : Chu Thị Mỹ. Sinh 1 trai : Thế Hiếu.

Đời thứ 9

Ngô Thế Khoán, còn gọi là Ba Đưởng, tự Phụ Xương Tòng, con thứ ba ông Ngô Thế Lương và bà Hạ Thị Nhĩ. Mất ngày 20-4 năm Giáp Tý (1924). Sinh thời ông học chữ nho và bốc thuốc. Sau này ông làm thày dạy chữ nho và bốc thuốc.
Bà : Vũ Thị Tuyển, hiệu Diệu Tuyên, không có con. Mất ngày 30 tháng Giêng năm Nhân Dần (1902).
Bà hai : Trương Thị Chanh, hiệu Diệu Chính. Mất ngày 18-9 năm Nhâm Tuất (1922). Sinh 1 trai: Thế Đưởng.

Đời thứ 10

Ông Ngô Thế Đưởng, thuỵ Tuần Lương, con độc nhất ông Ngô Thế Khoán và bà Trương Thị Chanh. Mất ngày 08-3 năm Mậu Dần (1938).
Bà : Trương Thị Đúc, hiệu Diệu Minh. Mất ngày 05 tháng Giêng năm Bính Tý. Sinh 5 trai, 4 gái :  Thế Biều, Thế Nhượng, Thế Nhiếp,  Thế Khoản, Thế Diệp, Thị Chử, Thị Dính, Thị Niêm, Thị Sáu (Síu).

Đời thứ 11

Ngô Thế Biều, con trưởng ông Ngô Thế Đưởng và bà Trương Thị Đúc. Mất ngày 19-5 năm Kỷ Mão (1939).
Bà : Hoàng Thị Phàn, sinh năm 1897, người cùng làng. Mất năm Giáp Tý (1984). Sinh 5 trai: Thế Cẩm, Thế Ý, Thế Xứng, Thế Tương, Thế Lập.

Đời thứ 12

Ngô Thế Cẩm, sinh năm 1922, con trai trưởng ông Ngô Thế Biều và bà Hoàng Thị Phàn. Ông làm nghề thợ may tại Hải Phòng
Bà : Hoàng Thị Dự, sinh năm 1926, công nhân Nhà máy đóng tầu Tam Bạc, đã nghỉ hưu. Sinh 3 trai, 2 gái : Thế Hồng, Thế Phòng, Thế Dương (chết trẻ), Thị Hải (1956), Thị Huệ (1960).

Đời thứ 13

Ngô Thế Hồng, sinh năm 1950, con trai trưởng ông Ngô Thế Cẩm và bà Hoàng Thị Dự.
Bà : Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1950, quê An Lão, Hải Phòng. Sinh 2           trai, 1 gái : Thế Quang (1972), Thị Thu (1976), Thế Quân (1982).

Đời thứ 13

Ngô Thế Phòng, sinh năm 1954, con trai thứ hai ông Ngô Thế Cẩm và bà Hoàng Thị Dự.
Bà : Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1957, công nhân Xí nghiệp máy lạnh, Liên hiệp Xí nghiệp Hải sản Hải Phòng. Sinh 1 gái : Thị Ninh (1991).

Đời thứ 12

Ngô Thế Ý, con trai thứ hai ông Ngô Thế Biều và bà Hoàng Thị Phàn. Ông là Liệt sỹ chống Pháp, hy sinh ngày 01-10 năm Canh Dần (1950). Không vợ con.

Đời thứ 12

Ngô Thế Xứng, con trai thứ ba ông Ngô Thế Biều và bà Hoàng Thị Phàn.
Bà : Nguyễn Thị Thuần. Ông bà đều là công nhân Nhà máy dệt Nam Đinh. Sinh 3 gái : Thị Hòa, Thị Phương, Thị Hiền.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tương, con trai thứ tư ông Ngô Thế Biều và bà Hoàng Thị Phàn. Ông là công nhân Nhà máy xay Đáp Cầu, đã nghỉ hưu.
Bà : Hoàng Thị Sâm, người cùng làng. Sinh 4 trai, 4 gái : Thế Lai, Thế Dũng, Thế Bình, Thế Minh, Thị Dung, Thị Xuân.

Đời thứ 13

Ngô Thế Lai, con trai trưởng ông Ngô Thế Tương và bà Hoàng Thị Sâm.
Bà : Hoàng Thị Mai. Sinh 1 trai, 1 gái : Thế Duy, Thị Thanh.

Đời thứ 13

Ngô Thế Dũng, con trai thứ hai ông Ngô Thế Tương và bà Hoàng Thị Sâm.
Bà : Đinh Thị Oanh. Sinh 2 trai : Thế Tuấn, Thế Thanh.

Đời thứ 13

Ngô Thế Bình, con trai thứ ba ông Ngô Thế Tương và bà Hoàng Thị Sâm.

Đời thứ 13

Ngô Thế Minh, con trai thứ tư ông Ngô Thế Tương và bà Hoàng Thị Sâm.

Đời thứ 12

Ngô Thế Lập, sinh năm 1943, con trai thứ năm (út) ông Ngô Thế Biều và bà Hoàng Thị Phàn. Ông là công nhân Nhà máy điện Cao Ngạn, Thái Nguyên. Năm 1965 đi bộ đội và hy sinh tại chiến trường miền Nam.

Đời thứ 11

Ngô Thế Nhượng, sinh năm 1900, con thứ hai ông Ngô Thế Đưởng và bà Trương Thị Đúc. Mất năm Quý Hợi (1983). Sinh thời, ông là công nhân Nhà máy Xi măng Hải Phòng.
Bà : Nghiêm Thị Bốn, sinh năm 1901, quê Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh.  Mất năm Quý Mùi (2003), thọ 103 tuổi. Sinh 3 trai, 3 gái: Thế Bách, Thế Vạn, Thế Đại, Thị Nhàn, Thị Thinh, Thị Thịnh.
   -     Ngô Thị Nhàn, sinh năm 1938, chồng là …. Sinh 1 trai, 3 gái : Nguyễn Trọng Quang (1958), Nguyễn Minh Lý (1962), Nguyễn Minh Tuyết (1965), Nguyễn Minh Nguyệt (1971).
   -     Ngô Thị Thịnh, sinh năm 1942, chồng là Nguyễn Đình Dũng. Sinh 3 gái, 1 trai : Nguyễn Ngô Dung (1968), Nguyễn ái Hoà (1965), Nguyễn Mạnh Hùng (1970), Nguyễn Hoà Hợp (1973).

Đời thứ 12

Ngô Thế Bách, sinh năm 1934, con trưởng ông Ngô Thế Nhượng và bà Nghiêm Thị Bốn. Ông là công nhân Nhà máy xi măng Hải Phòng đã nghỉ hưu.
Bà : Nguyễn Thị Hạnh, sinh năm 1934, quê làng Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội, công nhân Nhà máy len Hải Phòng, đã nghỉ hưu. Sinh 2 trai, 1 gái : Thế Diệp, Mai Lan, Thế Minh.
   -     Ngô Mai Lan, sinh năm 1971. Chồng là Nguyễn Đình Hiện, sinh năm 1964. Sinh 2 con : Nguyễn Ngọc Hà (1998), Nguyễn Ngọc Trâm (2001).

Đời thứ 13

Ngô Thế Diệp, sinh năm 1961, con trưởng ông Ngô Thế Bách và bà Nguyễn Thị Hạnh.
Bà : Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1961, quê Hàng Kênh, Hải Phòng. Sinh 1 trai, 1 gái : Thế Anh (1986), Thị Thu Thảo (1992).

Đời thứ 13

Ngô Thế Minh, sinh năm 1974, con thứ hai ông Ngô Thế Bách và bà Nguyễn Thị Hạnh.

Đời thứ 12

Ngô Thế Vạn, sinh năm 1937, con trai thứ hai ông Ngô Thế Nhượng và bà Nghiêm Thị Bốn.
Bà : Nguyễn Thị Vân, quê Đồng Tiến, An Lão, Hải Phòng. Sinh 2 trai : Thế Phú, Thế Cường.
Bà hai : Lương Thị Hải : quê Lương Khê, An Hải, Hải Phòng. Sinh 1 gái : Thị Thương.

Đời thứ 13

Ngô Thế Phú, sinh 1964, con trai trưởng ông Ngô Thế Vạn và bà Nguyễn Thị Vân.
Bà : Đỗ Thị Bích. Sinh 2 trai : Tiến Đạt, Tiến Đức.

Đời thứ 13

Ngô Thế Cường, sinh 1966, con trai thứ hai ông Ngô Thế Vạn và bà Nguyễn Thị Vân.

Đời thứ 12

Ngô Thế Đại, sinh ngày 19-8-1945, con trai thứ ba ông Ngô Thế Nhượng và bà Nghiêm Thị Bốn.
Bà : Đào Thị Thìn, sinh năm 1952, công nhân Xí nghiệp giày dép số 1 Hải Phòng. Sinh 3 gái : Thanh Hương (1972), Thanh Mai (1974), Thanh Huyền (1983).
   -     Ngô Thanh Hương, sinh năm 1972. Chồng là Hoàng Anh, sinh năm 1967. Sinh 1 trai : Hoàng Minh Châu (1997).

Đời thứ 11

Ngô Thế Nhiếp, con thứ ba ông Ngô Thế Đưởng và bà Trương Thị Đúc.
Bà : Hoàng Thị Sen, người cùng làng. Sinh 3 trai, 3 gái : Thế Năm, Thế Ngọc,  Thế Lộc, Thị Loan (Gái), Thị Bé, Thị Bích.

Đời thứ 12

Ngô Thế Năm, con trai trưởng ông Ngô Thế Nhiếp và bà Hoàng Thị Sen.
Bà : Nguyễn Thị Miên. Sinh 4 trai : Thế Hùng, Thế Dũng, Thế Mạnh, Thế Bình.

Đời thứ 13

Ngô Thế Hùng,  con trai trưởng ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Miên.
Bà : Nguyễn Thị Sen. Sinh 2 trai : Thế Huy, Thế Minh.

Đời thứ 13

Ngô Thế Dũng,  con trai thứ hai ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Miên.

Đời thứ 13

Ngô Thế Mạnh,  con trai thứ ba ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Miên.
Bà : Nguyễn Thị Tính. Sinh 1 gái : Thị Đình

Đời thứ 13

Ngô Thế Bình,  con trai thứ tư ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Miên.

Đời thứ 11

Ông Ngô Thế Khoản, còn gọi là Thế Tám, con trai thứ tư ông Ngô Thế Đưởng và bà Trương Thị Đúc. Ông bị Pháp bắt trong một trận càn và mất tích năm 1949. Giỗ ngày 24 tháng 10.
Bà : Nguyễn Thị Hý, người cùng làng. Sinh 2 trai, 4 gái : Thế Ngưng, Đức Cầm, Thị Thuận (chết trẻ), Thị Bằng, Thị Tâm, Thị Lý.
   -     Nguyễn Thị Lý, sinh năm 1945. Chồng là : Nguyễn Văn Kích (1943-2001). Sinh 1 trai, 2 gái : Nguyễn Văn Hùng (1958), Nguyễn Thị Hằng (1970), Nguyễn Thị Nga (1974).

Đời thứ 12

Ngô Thế Ngưng, con trai trưởng ông Ngô Thế Khoản (Thế Tám) và bà Nguyễn Thị Hý.
Bà : Nguyễn Thị Gái, quê xã Kim Đôi, Quế Võ, Bắc Ninh. Sinh 1 gái : Thị Hải.

Đời thứ 12

Ngô Đức Cầm, sinh năm 1932, con trai trưởng ông Ngô Thế Khoản (Thế Tám) và bà Nguyễn Thị Hý. Ông là công nhân Nhà máy Nhựa Hải Phòng, sau đó là Xí nghiệp Giầy dép 7 Hải Phòng, đã nghỉ hưu.
Bà : Đặng Thị Nhung, sinh năm 1946. Sinh 4 gái : Thị Hạnh (chết trẻ), Thị Hường (1954), Thị Huyền (1958), Thị Hà (1960)

Đời thứ 11

Ngô Thế Điệp, con trai thứ năm (út) ông Ngô Thế Đưởng và bà Trương Thị Đúc. Sinh thời, ông là cán bộ Nhà máy xay Lương Yên, Hà Nội.
Bà : Trần Thị Chín, người cùng làng. Sinh 2 trai, 4 gái : Thế Chiến, Thế Thắng,   Thị Huyền, Thị Bình, Thị Tý, Thị Thanh.

Đời thứ 12

Ngô Thế Chiến, con trai trưởng ông Ngô Thế Điệp và bà Trần Thị Chín. Ông là Trưởng phòng Kiểm tra chất lượng sản phẩm Nhà máy xe đạp Thống nhất.
Bà : .... Sinh 2 trai : Thế Phong, Thế Duy.
nike free run pas cher , louboutin soldes , louboutin soldes , louboutin soldes , sac louis vuitton pas cher , nike air max , sac à main longchamp pliage pas cher

Đời thứ 12

Ngô Thế Thắng, con trai thứ hai ông Ngô Thế Điệp và bà Trần Thị Chín. Bà : .... Sinh 1 trai : Thế Tuấn.