video mạng phần cứng
Bìa và lời chú bản Gia phả họ Ngô Đáp Cầu do cụ NGÔ TRỌNG TỐ biên soạn năm 1877

Ngành thứ mười - Chi Ất

NGÀNH THỨ MƯỜI
(Chi Ất)

ĐỜI THỨ TÁM

NGÔ THẾ BÀNH (còn gọi là Giám), thuỵ Phúc Hậu, sinh năm Bính Tý (1816), con trai thứ tư ông Ngô Thế Mỹ và bà Vũ Thị Bốn.
Bà : Nguyễn Thị Hợp hiệu Diệu Tập. Sinh 1 trai: Thế Oánh.

Đời thứ 9

Ngô Thế Oánh (còn gọi là Chuyện), con duy nhất ông Ngô Thế Bành và bà Nguyễn Thị Hợp.
Bà : Hạ Thị Phô, người cùng làng. Sinh 3 trai: Thế Chuyện, Thế Kính, Thế Xuân.

Đời thứ 10

Ngô Thế Chuyện, con trưởng ông Ngô Thế Oánh và bà Hạ Thị Phô.
Sinh thời ông là nhà thầu khoán nổi tiếng.
Bà : Vũ Thị Ngũ, người cùng làng, không có con.

Đời thứ 10

Ngô Thế Kính, con thứ hai ông Ngô Thế Oánh và bà Hạ Thị Phô.
Bà : Hoàng Thị Bộc. Sinh 1 gái: Thị Chắt.

Đời thứ 10

Ngô Thế Xuân, con thứ ba ông Ngô Thế Oánh và bà Hạ Thị Phô.
Bà : Vũ Thị Diến, người cùng làng. Sinh 1 trai, 2 gái: Thế Hứa, Ngô Thị Thu, Ngô Thị Tý.
Bà hai : Nguyễn Thị Khuê. Sinh 5 trai, 4 gái: Thế Bình, Thế Phấn, Thế Quế, Thế Hòe, Thế Lan, Thị Trà, Thị Phú, Thị Cúc, Thị Phương.

Đời thứ 11

Ngô Thế Hứa, sinh năm 1893, con trưởng ông Ngô Thế Xuân và bà Vũ Thị Diến. Mất ngày 17-4 năm Ất Tỵ (17-4-1965) thọ 73 tuổi. Mộ táng tại Nghĩa trang Quán Triều, Thái Nguyên. Sinh thời ông làm thư ký cho chủ nhất Nhà máy giấy Đáp Cầu, nên còn gọi ông là Ký Hứa. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tiếp tục làm cán bộ kỹ thuật tại nhà máy. Kháng chiến toàn quốc, ông theo nhà máy di chuyển lên Thái Nguyên và mất tại đó.
Bà : Lê Thị Thiềng, người cùng làng. Mất ngày 10-8 năm Quý Mùi (09-9-1943). Mộ táng tại Nghĩa trang Đồng Bối, Đáp Cầu. Sinh 2 trai, 2 gái: Thế Minh, Thế Chinh, Thị Thuyết, Thị Báu.
Bà hai : Lê Thị Tẽo (em ruột bà cả), còn gọi là Tám, sinhh năm 1906. Mất ngày 23-8 năm Mậu Thìn (03-10-1988), thọ 83 tuổi, mộ táng tại Nghĩa trang Quán Triều, Thái Nguyên. Sinh 3 trai, 3 gái: Thế Quỹ, Thế Viện, Thế Tiếp, Thị Diễn, Thị Thính, Thị Minh Thư.
   -     Ngô Thị Thuyết, mất ngày 07-12 năm Bính Tuất (29-12-1946). Chồng là Vũ Đình Hanh, người cùng làng. Sinh 1 gái Vũ Thị Hảo.
   -     Ngô Thị Báu, sinh 1928, công nhân xây dựng đã nghỉ hưu. Chồng là Nguyễn Văn Chi, cán bộ miền Nam tập kết, quê ở Tuy Hòa, Phú Yên, nguyên Trưởng phòng Công ty xây dựng số 6, Bộ Xây dựng. Sinh 3 gái : Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Châu, Nguyễn Thị Phương.  (/DIV)
   -     Ngô Thị Diễn, sinh 1930, mất ngày 19-9 năm Tân Tỵ (04-11-2001), thọ 72 tuổi. Mộ táng tại Nghĩa trang xã Đồng Việt, Yên Dũng Bắc Giang. Sinh thời bà là Công nhân Nhà máy in Việt Bắc. Chồng là Trần Anh Tuấn, sinh năm 1925, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Văn hóa Thông tin. Sinh 6 trai : Trần Việt Hùng (1952), Trần Việt Dũng (1954-1965), Trần Việt Tiến (1956), Trần Việt Cường (1958), Trần Việt Thắng (1962), Trần Viết Thịnh (1962-1971).
   -     Ngô Thị Thính, sinh 1934, cán bộ Ty Văn hóa Thái Nguyên và Sơn Tây. Chồng là Nguyễn Đăng Doanh (1928-1998), Đại tá, Bác sĩ Quân y, nguyên Hiệu phó Trường Sĩ quan Pháo binh (Sơn Tây). Sinh 2 trai, 2 gái : Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Đăng Dũng, Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Thị Liên.   
   -     Ngô Thị Minh Thư, sinh 1936, mất ngày 14-12 năm Đinh Mão (01-2-1988), tại Hà Nội, hưởng dương 53 tuổi. Mộ táng tại Nghĩa trang Quán Triều, Thái Nguyên. Sinh thời bà là Kỹ sư lâm nghiệp tại Công ty giống cây trồng Trung ương.

 

Đời thứ 12

Ngô Thế Minh, con trai trưởng ông Ngô Thế Hứa và bà Lê Thị Thiềng. Ông mất trước năm 1945. Mộ táng tại Đồng Bối, Đáp Cầu.
Bà: Vũ Thị Diện, sinh năm 1914, con ông Vũ Đình Phang và bà Mai Thị Tư. Mất ngày 19-2 năm Ât Hợi (19-3-1995), thọ 82 tuổi. Mộ táng tại Đáp Cầu. Ông Bà có 1 gái, 1 trai : Thị Liên, Thế Ngọc (bị quân Pháp sát hại năm 1949).
Sau khi ông Minh mất, bà tái giá với ông Đỗ Văn Chương, sinh được 2 gái : Đỗ Mỹ Hạnh, Đỗ Việt Tú. 
   -     Ngô Thị Liên, sinh 1933, mất ngày 26-9 năm Mậu Tý (24-10-2008), thọ 76 tuổi. An táng tại Văn Điển, Hà Nội. Chồng là Trương Công Quyền, sinh năm 1926, nguyên Phó vụ trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. Sinh 1 trai, 1 gái : Trương Công Hưng, Trương Thị Tường Anh.

 

Đời thứ 12

Ngô Thế Chinh, có tên khác là Tôn Sách, con thứ hai ông Ngô Thế Hứa và bà Lê Thị Thiềng. Ông mất năm 1948 tại Bắc Giang. Mộ táng tại Nghiã trang Quán Triều, Thái Nguyên. Sinh thời ông là cán bộ phụ trách cung cấp nguyên liệu của nhà máy giấy.
Bà: Mai Thị Lý. Mất năm 1945. Mộ táng tại Đồng bối, Đáp Cầu. Sinh 1 trai, 1 gái : Thế Châu, Thị Giang (1943). 
   -     Ngô Thị Giang. Chồng là Tạ Sinh Giảng, quê xã Đông Hội, Gia Lâm, Hà Nội. Ông bà nguyên là bác sĩ Bệnh viện 198, Bộ Công an. Sinh 1 trai, 2 gái : Tạ Sinh Minh, Tạ Thị Lan, Tạ Thị Nhung.

Đời thứ 13

Ngô Thế Châu, sinh năm 1935, con trai duy nhất của ông Ngô Thế Chinh và bà Mai Thị Lý. Ông nguyên là cán bộ công đoàn Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Thái Nguyên, chuyên gia Việt Nam tại Lào. Ông đã về hưu. 
Bà : Đỗ Thị Quý,sinh năm 1939, mất ngày 06-11 năm Ất Sửu (17-12-1985), hưởng dương 47 tuổi. Sinh thời bà là công nhân Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ, Thái Nguyên. Sinh 3 gái, 1 trai : Thị Minh Châm (1958), Khánh Toàn (1962), Thị Phương Thuý (1965), Thị Thọ (1970).
Bà hai : Trần Thị Lan Hương, sinh năm 1950, Nguyên cán bộ giảng dạy Trường Đại học Công nghiệp Thái Nguyên. 
   -     Ngô Thị Minh Trâm. Chồng là Nghiêm Xuân Công. sinh 1 trai, 1 gái : Nghiêm Xuân Tùng (1988), Nghiêm Thị Nhung (1991). 
   -     Ngô Thị Phương Thúy. Chồng là Nguyễn Hồng Hà. Sinh 2 trai, 1 gái : Nguyễn Thị Minh Thảo, Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Nguyên. Gia đình hiện sống ở Đức
   -     Ngô Thị Thọ. Chồng là Thoong Khum (người Lào). Sinh 3 gái : Huyền (1992), Mimi (1994), Nuni (1996). Gia đình hiện sống ở Viêng Chăn, Lào.   

Đời thứ 13 
Ngô Khánh Toàn, sinh năm 1962, con trai duy nhất ông Ngô Thế Châu và bà Đỗ Thị Quý. Kỹ sư cơ khí.
Bà : Vương Tiểu Bình, sinh năm 1973. Cán bộ Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên. Sinh 1 trai : Thế Quyền (1997).    

Đời thứ 12 
Ngô Thế Quỹ, sinh năm 1925, con thứ ba ông Ngô Thế Hứa và bà Lê Thị Tẽo. Mất ngày 01-02-năm Mậu Ngọ (9-3-1978), hưởng dương 54 tuổi. Hồi đầu kháng chiến, ông có tham gia Đoàn ca kịch ?. Sau mắc bệnh hoang tưởng. Sống độc thân. Mộ táng tại Nghĩa trang Quán Triều, Thái Nguyên.

Đời thứ 12

Ngô Thế Viện, con trai thứ tư ông Ngô Thế Hứa và bà Lê Thị Tẽo. Sinh năm 1943, mất ngày 9-7 năm Tân Mùi (18-8-1991), hưởng dương 49 tuổi. Mộ táng tại Nghĩa trang Quán Triều, Thái Nguyên. Sinh thời ông là công nhân Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Thái Nguyên.
Bà: Nguyễn Thị Phon. Sinh 1 gái, 2 trai : Ngô Thị Hương, Ngô Thế Hải, Ngô Thế Hà.
   -     Ngô Thị Hương, sinh năm 1974. Chồng là Nguyễn Văn Kiên . Đã ly hôn. Sinh 1 trai : Nguyễn Văn Đức.   
        Tái giá với chồng thứ hai là Nguyễn Văn Minh, sinh được 1 trai.  

Đời thứ 13 
Ngô Thế Hải, sinh năm 1976, con trai cả ông Ngô Thế Viện và bà Nguyễn Thị Phon. Đã lập gia đinh, hiện sống tại Đắc Nông.  

Đời thứ 13 
Ngô Thế Hà, sinh năm 1979, con thứ ông Ngô Thế Viện và bà Nguyễn Thị Phon. 

Đời thứ 12 
Ngô
Thế Tiếp, sinh năm 1950, con trai thứ năm (út) ông Ngô Thế Hứa và bà Lê Thị Tẽo. Bộ đội kháng chiến chống Mỹ. Xuất ngũ làm việc tại Công ty thức ăn gia súc Thái Nguyên. Năm 1977, mở công ty TNHH Xây dựng Ngọc Tùng tại Thành phố Thái Nguyên.
Bà: Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1959. Sinh 2 trai, 1 gái : Thế Kiên, Thế Mạnh, Thị Thùy Linh. 
   -     Ngô Thị Thùy Linh, sinh năm 1983, cử nhân Đại học Ngoại ngữ. Chồng là Dương Hữu Tiến, sinh năm 1980. Kỹ sư Bưu chính Viễn Thông. Sinh 1 gái : Dương Ngọc Khánh (2008).  

Đời thứ 13 
Ngô Thế Kiên, sinh năm 1977, con trai trưởng ông Ngô Thế Tiếp và bà Nguyễn Thị Thanh.
Bà : Vũ Lan Hương, sinh năm 1981.  

Đời thứ 13 
Ngô Thế Mạnh, sinh năm 1980, con trai thứ ông Ngô Thế Tiếp và bà Nguyễn Thị Thanh.
Bà : Tăng Thị Tuyết (đã ly hôn). Sinh 1 trai : Ngô Thế Đạt (2004).

Đời thứ 11

Ngô Thế Bình, con thứ hai ông Ngô Thế Xuân và bà Nguyễn Thị Khuê.
Bà : Đào Thị Mừng, mất sớm, không có con.
Bà hai : Vũ Thị Mệnh, con ông Vũ Đình Dục và bà Hạ Thị Trí. Sinh 1 gái: Ngô Thị Hiển (chồng Hoàng Văn Lợi).

Đời thứ 11

Ngô Thế Phấn, con trai thứ ba ông Ngô Thế Xuân và bà Nguyễn Thị Khuê.
Bà : Trương Thị Bẩy, người cùng làng. Sinh 2 trai, 1 gái: Thế Hồng (Liệt sĩ), Ngô Thế Vân, (Liệt sĩ), Thị Khiêm (chết trẻ).
Bà hai: Nguyễn Thị Gián. Sinh 1 trai, 3 gái: Thế Đức, Thị Vi, Thị Tiếp, Thị Giao.

Đời thứ 11

Ngô Thế Quế, con thứ tư ông Ngô Thế Xuân và bà Nguyễn Thị Khuê.
Bà : Mạc Thị Khánh. Sinh 2 trai, 1 gái: Thế Chi, Thế Liên, Thị Thanh.

Đời thứ 12

Ngô Thế Chi, con trai trưởng ông Ngô Thế Quế và bà Mạc Thị Khánh.
Bà :

Đời thứ 12

Ngô Thế Liên, con trai thứ hai ông Ngô Thế Quế và bà Mạc Thị Khánh.
Bà:

Đời thứ 11

Ngô Thế Hòe, con trai thứ năm ông Ngô Thế Xuân và bà Nguyễn Thị Khuê.
Bà : Vũ Thị Thuộc, người cùng làng. Sinh 3 gái: Thị Hòa, Thị Hoa, Thị Dung.

Đời thứ 11

Ngô Thế Lan, con trai thứ sáu (út) ông Ngô Thế Xuân và bà Nguyễn Thị Khuê.
Bà : Nguyễn Thị Lịch, người Thị Cầu. Sinh 4 trai, 3 gái: Thế Thọ, Thế Lâm, Thế Nam, Thế Bắc, Thị Lộc, Thị Tiến, Thị Định.

Đời thứ 12

Ngô Thế Thọ, con trai trưởng ông Ngô Thế Lan và bà Nguyễn Thị Lịch.

Đời thứ 12

Ngô Thế Lâm, con trai thứ hai ông Ngô Thế Lan và bà Nguyễn Thị Lịch.

Đời thứ 12

Ngô Thế Nam, con trai thứ ba ông Ngô Thế Lan và bà Nguyễn Thị Lịch.

Đời thứ 12

Ngô Thế Bắc,con trai thứ tư ông Ngô Thế Lan và bà Nguyễn Thị Lịch.