video mạng phần cứng
Bìa và lời chú bản Gia phả họ Ngô Đáp Cầu do cụ NGÔ TRỌNG TỐ biên soạn năm 1877

Ngành thứ hai - Chi Giáp

 

Đời thứ Tám

NGÔ THẾ QUÁN, tự Thuần Bộc, thuỵ Thuần Phác, con trai thứ hai ông Ngô Thế Dịch và bà Hoàng Thị Hiến. Mất ngày 18-4, thọ 54 tuổi. Mộ tại Đồng Bối, song táng cùng bà.

Xưa ông thiên tính thông minh, có từ tâm, giỏi coi sóc cơ nghiệp, theo nghề nông.

Bà: Trương Thị Thả, hiệu Diệu Cẩn, người cùng làng. Mất ngày 15-3, thọ 69 tuổi.
Ông bà sinh 2 trai: Thế Huệ, Thế Thực.

Đời thứ 9

Ngô Thế Huệ, thuỵ Trực Triết, con trưởng ông Ngô Thế Quán và bà Trương Thị Thả. Mất ngày 19-10, hưởng dương 26 tuổi, mộ tại Đồng Bối.
Bà: Hoàng Thị Đắc, hiệu Diệu Tích. Mất ngày 25-4, thọ 76 tuổi, mộ tại Đồng Bối, hướng về gò Con Cá, trước cửa cầu Vạn Điền về bên phải cùng 3 con là Thế Tập, Thế Tục, Thế Biệt.
Xưa bà là người từ tâm, cần mẫn, theo nghề tằm tơ, thừa hưởng cơ nghiệp của các đời trước nên giàu có. Bà goá chồng năm 20 tuổi, ở vậy thờ chồng nuôi 3 con nhỏ, lúc đó con út mới được có mấy ngày. Lúc ông lâm bệnh, gia đình thấy khó qua khỏi, để tránh sự ưu tư cho bà khi mới sinh đẻ nên đã đưa bà lên Yên Phong tạm trú để bà nuôi con, sau mới báo tin cho bà là ông qua đời. Đối với gia đình, bà là người có công rất lớn, nuôi dưỡng 3 con trai đến trưởng thành và gây dựng gia đình cho các con đầy đủ, giữ được nề nếp gia phong, có con cả làm lý trưởng.

Đời thứ 10

Ngô Thế Tập, thuỵ Phúc Đoan, con trưởng ông Ngô Thế Huệ và bà Hoàng Thị Đắc. Mất ngày 08-5, thọ 70 tuổi. Mộ táng ở Đồng Bối, hướng về cống nước.
Bà : Đỗ Thị Hải, hiệu Diệu Y, người cùng làng. Mất ngày 11-7, thọ 52 tuổi. Mộ tại bãi cát Phúc Sơn.
Xưa Ông có thiên tính. Đội ơn tổ được làm việc quan 3 năm, sau ông làm Thập Lý hầu 6 năm. Ông làm việc cần mẫn, không sai phạm gì. Không rõ lúc nào Ông trở về nhà.
Ông bà sinh 5 trai : Thế Cương, Thế Luật, Thế Thị, Thế Lang, Thế Vượng.

Đời thứ 11

Ngô Thế Cương, tự Thế Thái, thụy Trực Khai, con trưởng ông Ngô Thế Tập và bà Đỗ Thị Hải. Mất ngày 15-12, hưởng dương 24 tuổi. Mộ tại Đồng Bối, hướng Đông Nam – Tây Bắc.
Bà : Nguyễn Thị Năm, hiệu Diệu Ngoạn. Mất ngày 14-5, thọ 60 tuổi. Mộ song táng tại Đồng Bối. Ông mất được vài ngày thì bà sinh được 1 trai : Thế Hòa.

Đời thứ 12

Ngô Thế Hòa, thụy Phúc Thuận, con duy nhất ông Ngô Thế Cương và bà Nguyễn Thị Năm. Mất ngày 21-5-1991, thọ 94 tuổi. An táng tại Đồng Bối.
Sinh thời ông là cán bộ, công nhân viên nhà nước, sau nghỉ hưu.
Bà : Hoàng Thị Đích, hiệu Trinh Thuận, người cùng làng. Mất ngày 09-5, hưởng dương 30 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối, hướng về cống nước. Sinh 2 gái : Thị Phúc, Thị Cong.
Bà hai : Nguyễn Thị Nhâm, hiệu Diệu Tâm, quê Nam Sách, Hải Dương. Mất ngày 27-10, thọ 63 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh 2 trai, 2 gái : Thế Nhã (chết trẻ), Thế Hợp (chết trẻ), Thị Tỵ (chồng là Vỹ), Thị Xâm (chồng là Hoàng Thọ Được).

 

 

 

Bà ba : Dương Thị Vân, sinh năm 1920, quê Vân Khám, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh 2 trai, 2 gái : Thế Ninh (Liệt sỹ, hy sinh năm 24 tuổi), Thế Bình (chết trẻ), Thị Lập (chồng là Nguyễn Như Côn), Thị Vy (chồng là Vũ Như Báu).
Ngô Thế Luật, tức Hai Chuyện, thụy Phúc Thuật, con thứ hai ông Ngô Thế Tập và bà Đỗ Thị Hải. Mất ngày 24-4 năm Bính Tuất (24-5-1946), thọ 73 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Vũ Thị Bào, hiệu Diệu Lương, người cùng làng. Mất ngày 11-9 năm Bính Ngọ (28-10-1966), thọ 56 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh 1 trai : Thế Hiến.
Bà hai : Nguyễn Thị Khánh, quê làng Đạo Ngạn, Việt Yên. Mộ táng tại Đáp Cầu. Sinh 1 trai nhưng chết trẻ.
Bà ba : Nguyễn Thị Quế. Mộ táng tại Làng Thống. Không có con.

Đời thứ 12

Ngô Thế Hiến, thụy Phúc Hưởng, con trưởng ông Ngô Thế Luật và bà Vũ Thị Bào. Mất ngày 10-10 năm Mậu Ngọ (10-11-1978), thọ 74 tuổi. An táng tại Nghĩa trang Bất Bạt, Hà Tây. Sinh thời, Ông làm đốc công tại Mỏ than Uông Bí và Mỏ Phốt phát Bắc Giang.
Bà : Vũ Thị Diến, Mất ngày 10-6 năm ất Hợi (07-7-1995), thọ 87 tuổi. Mộ táng tại Đài hóa thân Hoàn vũ, Văn Điển, Hà Nội. Bà sinh 2 trai, 1 gái : Thế Hiếu, Hà Trung, Thị Kim.
   -    Ngô Thị Kim, công nhân nhà máy kẹo Hải Châu. Mất ngày 02-4 năm Kỷ Tỵ (06-5-1989).
Bà hai : Bùi Thị Thanh, hiệu Diệu Tỉnh. Mất ngày 23-5 năm Canh Ngọ (15-7-1991). An táng tại đồng vườn mả sứ thôn Y Na. Sinh 2 gái : Thị Thế, Thị Lễ.
   -    Ngô Thị Thế, công nhân Đoạn đầu máy xe lửa Hà Nội. Chồng là Đỗ Khả, thương binh thời chống Pháp.
   -    Ngô Thị Lễ, bác sỹ. Chồng là Phan Tuấn Hiền, quê Gia Lương, Bắc Ninh.

Đời thứ 13

Ngô Thế Hiếu, con trưởng ông Ngô Thế Hiến và bà Vũ Thị Diến. Tham gia bộ đội từ ngày đầu Kháng chiến chống Pháp. Sau là chuyên viên tổ chức Bộ Đại học. Đã nghỉ hưu tại Hà Nội.
Bà : Hoàng Thị Kim Hưng, y sĩ. Sinh 2 gái: Bích Hằng, Thúy Hồng.
   -    Ngô Bích Hằng, sinh năm 1960. Chồng là Lê Ngọc Minh. Hai vợ chồng đều là cán bộ Viện Thiết kế Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Sinh 1 trai, 1 gái : Lê Minh Hoài (1986), Lê Quỳnh Anh (1995).
   -    Ngô Thuý Hồng, sinh năm 1962, cán bộ Công ty Vinacafe, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Chồng là Nguyễn Hồng Vũ, sinh năm 1962, Bác sỹ, Bộ Y tế. Sinh 1 trai : Nguyễn Vũ Hoàng (1988).

Đời thứ 13

Ngô Hà Trung, con trai thứ hai ông Ngô Thế Hiến và bà Vũ Thị Diến. Tham gia bộ đội từ ngày đầu Kháng chiến chống Pháp. Nay là Phó Giáo sư Y học, nguyên Giám đốc Bệnh viện đa khoa ... Hà Nội, đã nghỉ hưu.
Bà : Nguyễn Thị Kim Lan. Tham gia bộ đội từ ngày đầu Kháng chiến chống Pháp. Nay là Dược sỹ, nguyên Trưởng phòng tổ chức Công ty Dược cấp III Hà Nội. Sinh 3 trai: Hà Thành, Hà Hải, Hà Sơn.

Đời thứ 14

Ngô Hà Thành, bác sĩ, sinh năm 1955, con trưởng ông Ngô Hà Trung và bà Nguyễn Thị Kim Lan. Mất năm 1981. An táng tại Nghĩa trang xã Xuyên Dương, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
Bà : Bùi Thị Hồng Nhung, bác sỹ. Sinh 1 gái : Thanh Thủy.
   -    Ngô Thanh Thủy, sinh năm 1981, làm việc tại Hoa Kỳ, lấy chồng người Mỹ gốc Ấn Độ.

Đời thứ 14

Ngô Hà Hải, sinh năm 1957, kỹ sư điện, học tại Tiệp Khắc (cũ), con trai thứ hai ông Ngô Hà Trung và bà Nguyễn Thị Kim Lan. Mất năm 2013. An táng tại Nghĩa trang Văn Điển, Hà Nội.
Bà : Nguyễn Thị Kim Oanh. Sinh 1 trai : Hà Nam (1991).

Đời thứ 15

Ngô Hà Nam, sinh năm 1991, con trai ông Ngô Hà Hải và bà Nguyễn Thị Kim Oanh. Sinh viên cao đẳng Công nghệ thông tin, Học viện Kỹ thuật Quân sự.

Đời thứ 14

Ngô Hà Sơn, PGS. TS. Đại tá, chuyên ngành Xây dựng Sân bay, sinh năm 1959, con trai thứ ba của ông Ngô Hà Trung và bà Nguyễn Thị Kim Lan. Hiện là giáo viên Học viện Kỹ thuật Quân sự, Bộ Quốc Phòng.
Bà : Đoàn Thị Bích Liên, giáo viên trường PTCS Nguyễn Du, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Sinh 1 trai, 1 gái: Hà Quân (1988), Hà My (1990).

Đời thứ 15

Ngô Hà Quân, sinh năm 1988, con trai ông Ngô Hà Sơn và bà Đoàn Thị Bích Liên. Sinh viên Học viện Kỹ thuật Quân sự.

Đời thứ 11

Ngô Thế Thị, thuỵ Phúc Thi, con thứ ba ông Ngô Thế Tập và bà Đỗ Thị Hải. Mất ngày 14-9 năm Tân Tỵ (02-11-1941), thọ 73 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh thời, ông bà buôn bán gỗ, nứa.
Bà cả : Hạ Thị Thải, hiệu Diệu Lịch, người cùng làng. Mất ngày 07-6 năm Bính Thân (14-7-1956). Mộ táng tại Đáp Cầu. Sinh 2 trai, 3 gái : Thế Phán, Thế Tý, Thị Chi lớn, Thị Chi con, Thị Iểng.
Bà hai : Nguyễn Thị Thân (Bầu) hiệu Diệu Cẩn, quê Thôn Thạch, xã Yên Lư, Yên Dũng, Bắc Giang. Thọ 70 tuổi. Sinh 1 trai, 2 gái : Thế Ngôn (chết trẻ), Thị Thức, Thị Thậm.

Đời thứ 12

Ngô Thế Phán, con trai trưởng ông Ngô Thế Thị và bà Hạ Thị Thải. Mất ngày 18-7 năm Ất Dậu (25-8-1945).
Bà : Vũ Thị Tòng, hiệu Diệu Y, người cùng làng. Mất ngày 24-5 năm Đinh Sửu (02-8-1937). Sinh 3 trai, 1 gái : Thế Phong, Thế Vụ, Thế Lương, Thị Vận.
   -    Ngô Thị Vận, chồng là Vũ Đình Thiết. Sinh 3 trai, 4 gái : Vũ Đình Tính, Vũ Thị Hiền, Vũ Thị Dung, Vũ Đình Đức, Vũ Thị Loan, Vũ Thị Lý.
Bà hai : Phạm Thị Minh, hiệu Diệu Xim, quê Lộc Bình, Lạng Sơn. Mất ngày 16-3, thọ 75 tuổi. Mộ táng tại Đồng Kính, Lạng Sơn. Sinh 1 trai : Thế Năm.

Đời thứ 13

Ngô Thế Phong, con trai trưởng ông Ngô Thế Phán và bà Vũ Thị Tòng. Thọ 78 tuổi, hoả táng tại Đài hoá thân hoàn vũ. Sinh thời ông công tác tại Bộ Công nghiệp nhẹ rồi nghỉ hưu.
Bà : Phạm Thị Thự, hiệu Diệu Tập. Mất ngày 07-11 khi bị cướp đánh chết tại Chùa Nội Doi, hưởng dương 20 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà hai : Vũ Thị Phê, cán bộ nghỉ hưu. Sinh 2 trai, 3 gái : Thế Tuấn, Thế Tùng, Thị Ngọc, Thị Châu, Thị Tuyết.

Đời thứ 13

Ngô Thế Vụ, thuỵ Phúc Cầu, sinh năm 1925, con trai thứ hai ông Ngô Thế Phán và bà Vũ Thị Tòng. Mất ngày 30-02 năm Giáp Tuất (10-5-1994), thọ 70 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Nguyễn Thị Thư, sinh 1926, người cùng làng. Sinh 1 trai, 3 gái : Thế Vinh, Thị Mỹ, Thị Hương, Thị Bắc.
-    Ngô Thị Mỹ, chồng là Hoàng Kim Định.
-    Ngô Thị Bắc, chồng là Nguyễn Đức Hoan.

Đời thứ 14

Ngô Thế Vinh, sinh ngày 20-7-1955 (02-6 năm ất Mùi) con trai duy nhất ông Ngô Thế Vụ và bà Nguyễn Thị Thư.
Bà : Nguyễn Thị Bình, sinh năm 1958, quê thôn lạc Thổ, xã Phong Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh. Ông bà đều là giáo viên ngành Giáo dục Bắc Ninh. Sinh 2 trai : Thế Vân Dương (13-8-1981), Thế Quý (04-01-1983).

Đời thứ 13

Ngô Thế Lương, sinh năm 1927, con trai thứ ba ông Ngô Thế Phán và bà Vũ Thị Tòng.
Bà : Lương Thị Kiên, sinh năm 1933. Ông bà đều làm công nhân rồi nghỉ hưu. Sinh 1 trai, 2 gái : Thị Ánh (1963), Thế Sơn (1968), Thị Thuỷ (1974).
-    Ngô Thị Ánh, chồng là Bùi Văn Bình.
-    Ngô Thị Thủy, chồng là Nguyễn Trung Thành.

Đời thứ 13

Ngô Thế Năm, thuỵ Phúc Bình, sinh năm 1931, con trai thứ tư (út) ông Ngô Thế Phán và bà Phạm Thị Minh. Mất ngày 11-12 năm Canh Thìn (05-01-2001), thọ 71 tuổi. An táng tại Nghĩa trang Thống Thượng.
Bà : Nguyễn Thị Thả, sinh năm 1932, quê Thống Thượng, Quế Võ, Bắc Ninh. Ông bà đều làm ruộng. Sinh 6 trai, 2 gái : Thế Long, Thế Lanh, Thế Lợi, Thế Lập, Thế Thành, Thế Tập, Thị Đại, Thị Lý

Đời thứ 14

Ngô Thế Long, sinh năm 1961, con trai trưởng ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Thả.
Bà : Nguyễn Thị Phiên, sinh năm 1962. Ông bà đều làm ruộng. Sinh 1 trai, 3 gái : Thế Sơn (1986), Thị Tuyết, Thị Hà, Thị Hoa.

Đời thứ 14

Ngô Thế Lanh, sinh năm 1964, con trai thứ hai ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Thả
Bà : Hà Thị Quý, sinh năm 1963. Ông bà đều là y sỹ của xã Thống Thượng. Sinh 2 trai: Thế Tân (1988), Thế Bình (1992).

Đời thứ 14

Ngô Thế Lợi, sinh năm 1966, con trai thứ ba ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Thả.
Bà : Nguyễn Thị Hạ, sinh 1967. Ông bà đều làm ruộng ở xã Thống Thượng.  Sinh 2 trai : Thế Thắng (1989), Thế Thạo (1991).

Đời thứ 14

Ngô Thế Lập, sinh năm 1968, con trai thứ tư ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Thả.
Bà : Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1970. Ông bà đều làm ruộng ở xã Thống Thượng. Sinh 1 trai : Thế Tuấn (1993)

Đời thứ 14

Ngô Thế Thành, con trai thứ năm ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Thả.

Đời thứ 14

Ngô Thế Tập, sinh năm 1972, con trai thứ sáu (út) ông Ngô Thế Năm và bà Nguyễn Thị Thả.
Bà : Nguyễn Thị Điệp, sinh năm 1978. Ông bà đều làm ruộng ở xã Thống Thượng.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tý, sinh năm 1911, con trai thứ hai ông Ngô Thế Thị và bà Hạ Thị Thải. Ông là nhà thầu khoán. Sau năm 1975, cả nhà ông đã di tản sang Hoa Kỳ. Ông mất ngày 03-10 năm Kỷ Mão (10-11-1999).
Bà : Hạ Thị Dung, sinh năm 1912, người cùng làng. Bà buôn bán và nội trợ. Sinh 2 trai, 2 gái : Thế Lạng, Thị Giang, Thế Đáp, Thị Thanh.
   -    Ngô Thị Giang, sinh năm 1943, đã có chồng con (không rõ họ tên).
   -    Ngô Thị Thanh, sinh năm 1949, đã có chồng con (không rõ họ tên).

Đời thứ 13

Ngô Thế Lạng, sinh năm 1940, con trưởng ông Ngô Thế Tý và bà Hạ Thị Dung. Ông là mục sư đạo tin lành. Ông có vợ và con gái. Con gái đã tốt nghiệp đại học và đã đi làm (không rõ tên).

Đời thứ 13

Ngô Thế Đáp, sinh năm 1946, kỹ sư hàng hải, con trai thứ hai ông Ngô Thế Tý và bà Hạ Thị Dung.

Đời thứ 11

Ngô Thế Lang, con thứ tư ông Ngô Thế Tập và bà Đỗ Thị Hải. Mất ngày …, thọ 56 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Hạ Thị Phối (thường gọi là Đích), người cùng làng. Sinh 1 trai, 1 gái : Thế Đang, Thị Mùi.
Bà hai : Dương Thị Tý, không có con.

Đời thứ 12

Ngô Thế Đang (Chê), con trai duy nhất ông Ngô Thế Lang và bà Hạ Thị Phối. Mất ngày 21-7, thọ 60 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Trương Thị Múi, người cùng làng. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh 1 gái : Thị Vui.

Đời thứ 11

Ngô Thế Vượng, thuỵ Phúc Thành, con thứ năm (út) ông Ngô Thế Tập và bà Đỗ Thị Hải. Mất ngày 06-11 năm Mậu Tý (16-12-1948), thọ 62 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Lê Thị Xích, hiệu Diệu Chu, người cùng làng. Sinh thời ông bà buôn bán. Sinh 5 trai, 5 gái : Thế Thịnh, Thế Giai, Thế Tám, Thế Chín, Thế Mười (chết trẻ), Thị Thả, Thị Buông, Thị Tý, Thị Beng, Thị Ẹo.
   -    Ngô Thị Thả, chồng là Vũ Đình Lung.
   -    Ngô Thị Buông, chồng là Trương Ngọc Dương.
   -    Ngô Thị Tý, chồng là Hoàng Văn Phụng.
   -    Thị Beng, chồng là Nguyễn Văn Cương.
   -    Thị Ẹo, chồng là Vũ Quang Hữu.

Đời thứ 12

Ngô Thế Thịnh, con ông Ngô Thế Vượng và bà Lê Thị Xích. Mất ngày 20-3, hưởng dương 26 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Hạ Thị Thuỵ. Mất ngày 23-4, thọ 83 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh 2 trai, 2 gái : Thế Thính (Liệt sỹ chống Pháp, hy sinh lúc 22 tuổi), Thế Ban (chết trẻ), Thị Hợi, Thị Ân (đều đã mất).

Đời thứ 12

Ngô Thế Giai, thuỵ Phúc Tiến, sinh năm 1914, con trai thứ hai ông Ngô Thế Vượng và bà Lê Thị Xích. Mất ngày 08-3 năm Bính Dần (16-4-1986), thọ 73 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Hoàng Thị Là, hiệu Diệu Thanh, sinh năm 1921, người cùng làng. Mất ngày 04-5 năm Kỷ Dậu (18-6-1969), thọ 49 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh thời ông bà đều là công nhân. Sinh 2 trai : Thế Bảo, Thế Lộc, Thị Toàn, Thị Vân.
   -    Ngô Thị Toàn, chồng là Phạm Văn Thắng.

Đời thứ 13

Ngô Thế Bảo, sinh năm 1946, con trai trưởng ông Ngô Thế Giai và bà Hoàng Thị Là.
Bà : Nguyễn Thị Thọ, sinh năm 1952, quê Kim Chân, Quế Võ, Bắc Ninh. Ông bà đều là công nhân viên. Sinh 3 trai : Thế Ngọc (1975), Thế Tuấn (1976), Thế Thanh (1985).

Đời thứ 13

Ngô Thế Lộc, sinh năm 1954, con trai thứ hai ông Ngô Thế Giai và bà Hoàng Thị Là. Ông là công nhân.
Bà : Nguyễn Thị Khánh, quê Thị Cầu. Sinh 2 trai : Thế Giáp (1984), Thế Tùng (1985).

Đời thứ 12

Ngô Thế Tám, thuỵ Phúc Minh, sinh năm 1925, con trai thứ ba ông Ngô Thế Vượng và bà Lê Thị Xích. Mất ngày 03-4 năm ất Hợi (02-5-1995), thọ 71 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Hạ Thị Lai, hiệu Diệu Thái, sinh năm 1925. Mất ngày 23-5 năm ất Mùi (12-7-1955), hưởng dương 31 tuổi. Sinh 3 gái : Thị Lan, Thị Thể, Thị Thái.
   -    Ngô Thị Lan, chồng là Lê Quang Đan.
   -    Ngô Thị Thể, chồng là Trần Văn Chung.
   -    Ngô Thị Thái, chồng là Đồng Ngọc Lai.
Bà hai : Vũ Thị Giản, sinh năm 1929, người cùng làng. Sinh 3 trai, 3 gái : Thị Hải (1958), Thế Lâm (1961), Thế Hùng (1963 - chết trẻ), Thị Thêm (1966), Thị Thuỷ (1968), Thế Thắng (1972).
   -    Ngô Thị Hải, chồng là Nguyễn Trung Văn.
   -    Ngô Thị Thêm, chồng là Đoàn Nguyện Hùng.
   -    Ngô Thị Thuỷ, chồng là Nguyễn Ngọc Tứ.

Đời thứ 13

Ngô Thế Lâm, sinh ngày 07-8-1961, con trai trưởng ông Ngô Thế Tám và bà Vũ Thị Giản.
Bà : Đỗ Thị Hằng, sinh ngày 03-01-1965, người cùng làng, con ông Đỗ Văn Hồng và bà Hạ Thị Năm. Sinh 1 gái, 1 trai : Phương Thảo (05-11-1985), Thế Mạnh (4-1-1992).

Đời thứ 13

Ngô Thế Thắng, sinh năm 1972, con trai thứ ba ông Ngô Thế Tám và bà Vũ Thị Giản. Mất ngày 27-12 năm Bính Tý (04-2-1997). Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Trần Thị Nhung, sinh năm 1974. Sinh 2 gái, 1 trai : Thị Phương (1990), Thị Hương (1992), Thế Chiến (22-02-1994).

Đời thứ 12

Ngô Thế Chín, sinh năm 1926, con trai thứ tư ông Ngô Thế Vượng và bà Lê Thị Xích. Mất ngày 02-02 năm Giáp Tuất (13-3-1994), thọ 69 tuổi.
Bà : Bùi Thị Xuyên, quê An Lão, Hải Phòng. Sinh 1 trai (chết sớm), 1 gái : Thị Nam.

Đời thứ 10

Ngô Thế Tục, thuỵ Phúc Thuỵ, con trai thứ hai ông Ngô Thế Huệ và bà Hoàng Thị Đắc. Mất ngày 05-4, thọ 70 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh thời, ông bà là người hiền hoà, đức độ, phúc hậu, trên kính, dưới nhường, không mất lòng ai bao giờ.
Bà : Nguyễn Thị Lễ, người cùng làng. Sinh 2 trai, 1 gái : Thế Tịch, Thế Học, Thị Lã (lấy chồng họ Trương, chỉ có 1 con gái).

Đời thứ 11

Ngô Thế Tịch, con trai trưởng ông Ngô Thế Tục và bà Nguyễn Thị Lễ. Hưởng dương 49 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh thời ông bà làm nghề buôn bán. Sinh 2 trai : Thế Quyển (Cả nhớn), Thế Sách (Nhỡ).
Bà : Vũ Thị Phú, người cùng làng.

Đời thứ 12

Ngô Thế Quyển, sinh năm 1901, con trai trưởng ông Ngô Thế Tịch và bà Vũ Thị Phú. Mất ngày 22-02 năm Đinh Tỵ (10-4-1977), thọ 77 tuôi. Mộ táng tại Đồi Me, Bạch Hạc, Vĩnh Yên. Sinh thời ông bà làm nghề thầu khoán và buôn bán lâm sản, gỗ, nứa, mây, song.
Bà : Đỗ Thị Thoa, sinh năm 1900. Mất ngày 15-12 năm Quý Sửu (07-01-1974), thọ 75 tuổi. Mộ táng tại Nghĩa trang Thanh Sơn, Thị Cầu.
Bà hai : Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1910. Mất năm 1980, thọ 71 tuổi. Mộ táng tại Đồi Me, Bạch Hạc, Vĩnh Yên.
Sinh 1 trai, 4 gái: Thế Bắc, Thị Chúc, Thị Hợp, Thị Đỉnh, Thị Hải.
   -    Ngô Thị Chúc, chồng là Nguyễn Văn Chi
   -    Ngô Thị Hợp, sinh năm 1936, chồng là Đặng Chí Khả. Sinh Đặng Hà Thu (1959), Đặng Kim Thanh (1961), Đặng Chí Khang (1963).
   -    Ngô Thị Đỉnh, chồng là Nguyễn Văn Huệ
   -    Ngô Thị Hải.

Đời thứ 13

Ngô Thế Bắc, sinh năm 1926, con trai trưởng ông Ngô Thế Quyển và bà Nguyễn Thị Nhung. Mất ngày 12-02 năm Quý Dậu, thọ 68 tuổi. Mộ táng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sinh thời ông bà làm nghề buôn bán mấy tre đan, nón lá.
Bà : Hạ Thị Ngần, sinh năm 1927. Mất ngày 08-02 năm Bính Tý (26-3-1996). Sinh 4 trai, 8 gái : Thế Tự, Gia Vinh, Thế Đào, Thế Thiệu, Thị Bích Vân, Thị Bích Loan, Thị Đoan Trang, Thị Phương (chết năm 1995).

Đời thứ 12

Ngô Thế Sách, còn gọi là Hai Nhỡ, con trai thứ hai ông Ngô Thế Tịch và bà Vũ Thị Phú. Độc thân, mất năm 1987. Mộ táng tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đời thứ 11

Ngô Thế Học, còn gọi là Nhiêu Thiềng, sinh năm 1882, con trai thứ hai ông Ngô Thế Tục và bà Nguyễn Thị Lễ. Mất ngày 14-10 năm Tân Dậu (13-11-1921), hưởng dương 40 tuổi. Mộ táng tại Bãi Cát, xã Vũ Ninh, Thị xã Bắc Ninh.
Bà : Hạ Thị Điền, sinh năm 1880. Mất ngày 23-3 năm Bính Ngọ (13-5-1966), thọ 87 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh thời Ông bà buôn bán thực phẩm tươi sống. Sinh 3 trai : Thế Ý, Thế Nhật, Thế Phan, Thị Tâm (cô Nhớn), Thị Nhỡ, Thị Mắn (cô út).
   -    Ngô Thị Tâm, còn gọi là cô Nhớn, mất năm 1943. Chồng là Nguyễn Văn Chất, người Thị Cầu, đã mất.
   -    Ngô Thị Nhỡ. Mất năm 1969. Chồng là Đỗ Văn Dinh, người Đọ Xá, Bắc Ninh, đã mất.
   -    Ngô Thị Mắn. Mất năm 1972. Chồng là Nguyễn Văn Yêm, người Thị Cầu, đã mất.

Đời thứ 12

Ngô Thế Ý, sinh năm 1911, con trai trưởng ông Ngô Thế Học và bà Hạ Thị Điền. Mất ngày 19-4 năm Nhâm Tuất (12-5-1982), thọ 72 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà cả : Đinh Thị Tý, sinh năm 1916, quê xã Lãng Ngân, Gia Bình, Bắc Ninh. Mất ngày 05-02 năm ất Dậu (18-3-1945), hưởng dương 30 tuổi. Sinh 3 trai, 1 gái : Thế ấp (chết trẻ), Thế Thái, Thế Tân (chết trẻ), Thị Cầu (1944-1984).
Bà hai : Nguyễn Thị Du, sinh năm 1927, quê Trạm Trôi, Hoài Đức, Hà Tây. Mất ngày 26-6 năm Tân Mùi (06-8-1991), thọ 65 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh 4 gái, 1 trai : Thị Bình , Thế An , Thị Ninh, Thị Thọ, Thị Khang.
   -    Ngô Thị Bình, sinh năm 1957. Chồng là Phạm Văn Tiến, sinh năm 1957.
   -    Ngô Thị Ninh, sinh năm 1961. Chồng là Nguyễn Văn Nút, sinh năm 1960.
   -    Ngô Thị Thọ, sinh năm 1962. Chồng là Nguyễn Văn Huân, sinh năm 1952.
   -    Ngô Thị Khang, sinh năm 1968. Chồng là Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1959.

Đời thứ 13

Ngô Thế Thái, cử nhân kinh tế, sinh ngày 05-4-1937, con trai trưởng ông Ngô Thế Ý và bà Đinh Thị Tý. Ông bà đều là viên chức nhà nước đã nghỉ hưu. Mất năm 2007. Mai táng tại Nghĩa trang Đồng Bối.
Bà : Nguyễn Thị Ngọc Cầm, sinh năm 1939, quê làng Chèm, Từ Liêm, Hà Nội. Sinh 4 trai Tiến Cường, Tiến Dũng, Tiến Hải, Tiến Quân (chết trẻ).

Đời thứ 14

Ngô Tiến Cường, sinh năm 1965, con trai trưởng ông Ngô Thế Thái và bà Nguyễn Thị Ngọc Cầm.
Bà cả : Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1968, ly hôn năm 1990, Sinh 1 gái : Ngọc Hoa (1989).
Bà hai : Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1971. Sinh 1 trai : Thế Hiếu (2000)

Đời thứ 14

Ngô Tiến Dũng, sinh năm 1967, con trai thứ hai ông Ngô Thế Thái và bà Nguyễn Thị Ngọc Cầm. Ông bà đều là viên chức nhà nước.
Bà : Vũ Thị Hà, sinh năm 1974. Sinh 1 gái Vũ Hà My (2001, mang họ mẹ).

Đời thứ 14

Ngô Tiến Hải, sinh năm 1970, con trai thứ ba ông Ngô Thế Thái và bà Nguyễn Thị Ngọc Cầm. Ông bà đều là viên chức nhà nước.
Bà : Hạ Thuý Hằng, sinh năm 1973. Sinh 1 trai : Thế Huy (1998).

Đời thứ 13

Ngô Thế An, sinh năm 1959, con trai thứ hai ông Ngô Thế ý và bà Nguyễn Thị Du. Hiện sống độc thân.

Đời thứ 12

Ngô Thế Nhật, sinh năm 1917, con trai thứ hai ông Ngô Thế Học và bà Hạ Thị Điền. Mất năm 1961, hưởng dương 32 năm . Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh thời ông bà làm nghề buôn bán nhỏ.
Bà : Phạm Thị Loan, sinh năm 1923. Mất năm 2001, thọ 79 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh 4 trai, 2 gái : Thế Thuỷ, Thị Oanh, Thế Hùng, Thị Yến, Thế Châu, Thế Long.
   -    Ngô Thị Oanh, sinh năm 1951. Mất năm 1993, hưởng dương 44 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Chồng là Nguyễn Hữu Nguyên, sinh năm 1940.
   -    Ngô Thị Yến, sinh năm 1957. Chồng là Đinh Văn Thắng, sinh năm 1955. Ông bà làm nghề buôn bán.

Đời thứ 13

Ngô Thế Thuỷ, sinh năm 1947, con trai trưởng ông Ngô Thế Nhật và bà Phạm Thị Loan. Mất năm 1978, hưởng dương 32 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Bà : Nguyễn Thị Thông, sinh năm 1950. Sinh 2 gái, 1 trai : Thị Thành  (1973),  Thị Thuý (1975), Thế Đức (1977).

Đời thứ 13

Ngô Thế Hùng, sinh năm 1954, con trai thứ hai ông Ngô Thế Nhật và bà Phạm Thị Loan. Ông bà đều là viên chức nhà nước.
Bà : Nguyễn Thị Mai Sinh, sinh năm 1955. Sinh 1 gái, 2 trai : Thị Hằng (1981), Thế Hiệp (1985), Thế Minh (1988).

Đời thứ 13

Ngô Thế Châu, sinh năm 1959, con trai thứ ba ông Ngô Thế Nhật và bà Phạm Thị Loan.  Ông bà đều là công nhân.
Bà : …. Sinh 1 trai : Thế Hà (1985).

Đời thứ 13

Ngô Thế Long, sinh năm 1961, con trai thứ tư ông Ngô Thế Nhật và bà Phạm Thị Loan. Ông bà là kiều bào ở Australia.
Bà : Đặng Thị Ngoan, sinh năm 1967. Sinh 3 trai : Đức Lập (1989), Đức Công (1990), Minh Quang (1997).

Đời thứ 12

Ngô Thế Phan, sinh năm 1918, con trai thứ ba ông Ngô Thế Học và bà Hạ Thị Điền. Mất năm 1968, thọ 51 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Ông bà làm nghề buôn bán.
Bà : Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1919. Sinh 4 trai, 2 gái Thế Toàn, Thế Thắng, Thế Đỉnh, Thế Chung, Thị Loan, Thị Liên.

Đời thứ 13

Ngô Thế Toàn, sinh năm 1945, con trai trưởng ông Ngô Thế Phan và bà Nguyễn Thị Bé.
Bà : Trịnh Thị Đặng, sinh năm 1953. Sinh 2 trai, 1 gái : Trung Dũng (1981), Thế Tùng (1982), Thị Dung (1987).

Đời thứ 13

Ngô Thế Thắng, sinh năm 1947, con trai thứ hai ông Ngô Thế Phan và bà Nguyễn Thị Bé.
Bà : Nguyễn Thị Nữ, sinh năm 1948. Sinh 3 gái, 3 trai : Việt Trinh (1979), Thuý Nguyên (1981), Kim Phượng (1983), Thế Phương (1985), Thế Phi (1987), Thế Cảnh (1989).

Đời thứ 13

Ngô Thế Đỉnh, sinh năm 1949, con trai thứ ba ông Ngô Thế Phan và bà Nguyễn Thị Bé.
Bà : Nguyễn Thị Băng, sinh năm 1952. Sinh 1 trai, 2 gái : Thế Mạnh, Thị Hà, Thị Hiền.

Đời thứ 13

Ngô Thế Chung, sinh năm 1951, con trai trưởng ông Ngô Thế Phan và bà Nguyễn Thị Bé. Mất năm 2002. Thọ 52 tuổi.
Bà : Nguyễn Thị Huyên. Sinh 4 trai : Thế Đông, Thế Khánh, Thế Tuấn, Thế Hiếu.

Đời thứ 10

Ngô Thế Biệt, thuỵ Phúc Thành, sinh năm 1856, con trai thứ ba ông Ngô Thế Huệ và bà Hoàng Thị Đắc. Mất ngày 11-11 năm Quý Hợi (18-12-1923), thọ 68 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.
Ông mồ côi cha sớm, chữ nho biết ít, nhưng ông chăm lo làm ăn, cần cù lao động, bà đích đảm đang, ông bà chuyên nghề trồng dâu nuôi tằm, buôn bán phát đạt, tậu được nhiều đất., nuôi dạy con cái ăn học thành tài, gia đình nề nếp, được mọi người quý mến.
Bà cả : Trương Thị Dấn, hiệu Diệu Chân, sinh năm 1858. Mất ngày 29-2 năm Canh Ngọ (27-4-1930), thọ 73 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh 7 trai (đều chết trẻ), 2 gái : Thị Phẩm, Thị Tương.
   -    Ngô Thị Phẩm. Chồng là Vũ Đình Môn, người cùng làng, sinh 1 trai 4 gái.
   -    Ngô Thị Tương. Chồng là Trương Ngọc Thược, người cùng làng.
Bà hai : Nguyễn Thị Hà, hiệu Diệu Hợp, sinh năm 1885. Mất ngày 29-5 năm ất Tỵ (28-6-1965), tại Nam Định, thọ 81 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối (cạnh mộ bà cả). Sinh 2 trai, 1 gái : Thế Nhài (1912), Thế Liệu (1916), Thị Phương (1920, chết trẻ)

Đời thứ 11

Năm 198?
Ngô Thế Nhài, thuỵ Phúc Trản, sinh ngày 26-02-1912, con trưởng ông Ngô Thế Biệt và bà Nguyễn Thị Hà. Mất ngày 08-3 năm Đinh Sửu (14-4-1997), thọ 86 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối cạnh mộ bà. Sinh thời ông tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau năm 1954 ông làm Trưởng phòng Tài vụ Nhà máy tơ Nam Định. Năm 1971, ông về hưu tại quê nhà. Đối với dòng họ ông là người tâm huyết, nêu gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo. Ông là người bổ sung thêm phả của họ vào năm 1975, 1976 và là người viết văn khấn ngày giỗ tổ.
Bà : Trương Thị Báu, sinh năm 1913, người cùng làng. Mất ngày 24-10 năm Kỷ Tỵ (21-11-1989), thọ 77 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh 3 trai, 4 gái : Thế Hồi, Thị Thảo, Thị Hiền, Thế Phách, Thị Hậu, Thị Tuyết, Thế Tâm.
   -    Ngô Thị Thảo, sinh năm 1933. Chồng là Nguyễn Đình Tảo, người cùng làng.
   -    Ngô Thị Hiền, sinh năm 1940. Chồng là Hạ Bá Đoàn, người cùng làng.
   -    Ngô Thị Hậu, sinh năm 1945. Chồng là Vũ Ngọc Hiền, quê Hải Dương.
   -    Ngô Thị Tuyết. Chồng là Phạm Xuân Mai, quê Quỳnh Côi, Thái Bình.

Đời thứ 12

Ngô Thế Hồi, sinh ngày 31-5-1931, con trưởng ông Ngô Thế Nhài và bà Trương Thị Báu. Ông công tác tại Sở Văn hoá Thông tin Hà Nội và nghỉ hưu năm 1971 tại 40 Hàng Bông, Hà Nội.
Bà : Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1943, quê Bần Yên Nhân, Mỹ Hào, Hưng Yên. Bà công tác tại Công ty ăn uống Hà Nội, nghỉ hưu từ năm 1990. Sinh 2 gái, 1 trai : Thị Hạnh (1965, lấy chồng quê Gia Lương, Bắc Ninh), Thị Hồng (1969), Thế Vinh.

Đời thứ 13

Ngô Thế Vinh, cử nhân ngoại ngữ, sinh ngày 16-8-1971, con trưởng ông Ngô Thế Hồi và bà Nguyễn Thị Hiền. Hiện đang công tác tại Trung tâm Quản lý bay miền Bắc.

Đời thứ 12

Ngô Thế Phách, kỹ sư xây dựng, sinh năm 1942, con trai thứ hai ông Ngô Thế Nhài và bà Trương Thị Báu. Công tác tại Bộ Xây dựng. Nghỉ hưu năm 2002 tại Hà Nội.
Bà : Phạm Thị Thái, sinh năm 1949, quê Quỳnh Côi, Thái Bình, giáo viên dạy toán tại trường PTTH Thăng Long, Hà Nội. Sinh 2 gái : Thị Hương (cử nhân kinh tế ngoại thương), Thị Phượng (cử nhân kinh tế quốc dân).

Đời thứ 12

Ngô Thế Tâm, Kỹ sư, sinh năm 1952, con trai thứ ba (út) ông Ngô Thế Nhài và bà Trương Thị Báu. Công tác tại UBND Thị xã Bắc Ninh.
Bà : Đào Thị Thuý, sinh năm 1953, quê Thị xã Hà Đông. Sinh 2 trai : Thế Thuỷ, Thế Sơn (1987).

Đời thứ 13

Ngô Thế Thuỷ, kỹ sư xây dựng, sinh ngày 16-6-1978, con trai trưởng ông Ngô Thế Tâm và bà Đào Thị Thuý. Công tác tại Công ty xây dựng Bộ Quốc phòng.

Đời thứ 11

Ngô Thế Liệu, sinh năm 1916, con trai thứ hai ông Ngô Thế Biệt và bà Nguyễn Thị Hà. Mất ngày 21-5 năm Bính Dần (27-6-1986), thọ 71 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh thời ông là Phó giám đốc Nhà máy Z117, Bộ Quốc phòng.
Bà : Hoàng Thị Thái, sinh 1916, người cùng làng. Bà làm cùng nhà máy với ông và nghỉ hưu năm 1970 tại Huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Sinh 3 trai, 2 gái: Thế Toản, Thế Khánh, Thế Cẩm, Thị Hải, Thị Lý.
   -    Ngô Thị Hải, sinh năm 1957. Chồng là Nguyễn Văn Can, quê Nam Hà.
   -    Ngô Thị Lý, sinh năm 1961. Chồng là Vương Hùng, quê Hà Nội.

Đời thứ 12

Ngô Thế Toản, sinh ngày 25-01-1942, con trai trưởng ông Ngô Thế Liệu và bà Hoàng Thị Thái. Công tác tại Nhà máy Z133, Bộ Quốc phòng. Nghỉ hưu năm 1995 tại khu tập thể Nhà máy ở Thượng Cát, Gia Lâm, Hà Nội.
Bà : Nguyễn Thị Gái, sinh 6-1948, quê Gia Lộc, Hải Dương. Bà làm cùng nhà máy với ông và nghỉ hưu năm 1999. Sinh 3 trai : Thế Thắng, Thế Thuỷ, Thế Thịnh.

Đời thứ 13

Ngô Thế Thắng, sinh năm 1971, con trai trưởng ông Ngô Thế Toản và bà Nguyễn Thị Gái. Công tác tại Nhà máy Z133, Bộ Quốc phòng.
Bà : Phí Thị Thuý, sinh 8-1975, quê Nam Hà. Công tác tại Nhà máy X-26. Sinh 1 gái : Thuý Hồng.

Đời thứ 13

Ngô Thế Thuỷ, sinh năm 1973, con trai thứ hai ông Ngô Thế Toản và bà Nguyễn Thị Gái. Công tác tại Nhà máy Z133, Bộ Quốc phòng.
Bà : Lê Thị Hưởng, sinh 09-3-1981, quê Thái Bình. Công tác tại Nhà máy X-26. Sinh 1 trai : Thế Ngọc.

Đời thứ 13

Ngô Thế Thịnh, sinh ngày 03-12-1977, con trai thứ ba ông Ngô Thế Toản và bà Nguyễn Thị Gái.

Đời thứ 12

Ngô Thế Khánh, sinh năm 1944, con trai thứ hai ông Ngô Thế Liệu và bà Hoàng Thị Thái. Công tác tại Nhà máy quân giới, Bộ Quốc phòng. Nghỉ hưu năm 1995 tại 18 Đường Ướp lạnh, Cầu Diễn, Hà Nội.
Bà : Nguyễn Thị Huệ, sinh ngày 08-4-1947, quê ở Phụ Dực, Thái Bình, Bà cùng công tác tại nhà máy với ông.Nghỉ hưu năm 1996. Sinh 1 trai, 2 gái : Thị Hương, Thế Anh, Thị Thuý.
   -    Ngô Thị Hương, sinh năm 1971. Chồng là Ngô Văn Huy, quê Nam Định.
   -    Ngô Thị Thuý, sinh năm 1975. Chồng là Nguyễn Quốc Thắng, quê Thái Bình.

Đời thứ 12

Ngô Thế Cẩm, sinh năm 1952, con trai thứ ba (út) ông Ngô Thế Liệu và bà Hoàng Thị Thái. Công tác tại Nhà máy Z117, Bộ Quốc phòng.
Bà : Nguyễn Thị Minh, sinh ngày 05-10-1954, quê Nghệ An, công tác cùng nhà máy với ông. Năm 1998, nghỉ hưu tại xã Thanh Thuỷ,Sóc Sơn, Hà Nội. Sinh 1 gái, 2 trai : Thị Cúc (sinh 29-11-1979, cử nhân ngoại ngữ tiếng Nhật), Thế Hiệp (19-8-1982), Thế Hưng (9-1984).

Đời thứ 9

Ngô Thế Thực, thụy Trực Cơ, con trai thứ hai ông Ngô Thế Quán và bà Trương Thị Thả. Mất ngày 15-10. hưởng dương 28 tuổi. Không có vợ con.