video mạng phần cứng
Bìa và lời chú bản Gia phả họ Ngô Đáp Cầu do cụ NGÔ TRỌNG TỐ biên soạn năm 1877

Ngành thứ ba - Chi Giáp

 

Đời thứ Tám

NGÔ THẾ THỨC, con thứ ba ông Ngô Thế Dịch và bà Hoàng Thị Hiến.

Bà : Đỗ Thị Gián, sinh 1 trai: Thế Thành

Đời thứ 9

Ngô Thế Thành, con độc nhất ông Ngô Thế Thức và bà Đỗ Thị Gián

Bà : Trương Thị Lương, sinh 1 trai : Thế Cau.

Đời thứ 10

Ngô Thế Cau, con độc nhất ông Ngô Thế Thành và bà Trương Thị Lương

Bà : Trần Thị Thuận, sinh 1 trai : Thế Mâu

Bà thứ : Nguyễn Thị Phố, quê làng Đạo Ngạn, xã Quang Châu, huyện Việt Yên, Bắc Giang. Bà mất ngày 15-6 năm Giáp Thân (03-8-1944). Sinh 2 trai, 2 gái: Thế Tuất, Thế Sáu, Thị Khích, Thị Năm.

   -    Ngô Thị Khích, lấy chồng ở Gia Thụy, Gia Lâm, Hà Nội.

   -    Ngô Thị Năm, lấy Hạ Bá Sớ, người cùng làng.

Đời thứ 11

Ngô Thế Mâu, con trưởng ông Ngô Thế Cau và bà Trần Thị Thuận. Mất ngày 02-4. Mộ táng tại Đồng Bối.

Bà : Vũ Thị Tý, người cùng làng. Mất ngày 04-12, thọ trên 80 tuổi. Mộ táng tại Nghĩa trang Thanh Sơn, Thị Cầu.

Ông bà buôn bán, lao động tại Đáp Cầu. Sinh 2 trai, 1 gái : Thế Mậu, Thế Mầu, Thị Dụt.

   -    Ngô Thị Dụt lấy Hoàng Văn Tư, người cùng làng, là thợ gò hàn Nhà máy gạch Đáp Cầu

Đời thứ 12

Ngô Thế Mậu (Mậu Lớn), con trưởng ông Ngô Thế Mâu và bà Vũ Thị Tý.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia tự vệ và là một trong số chỉ huy trung đội tự vệ chiến đấu khi quân Pháp trở lại chiếm đóng Bắc Ninh, Đáp Cầu. Hòa bình lập lại, ông tham gia hoạt động Mặt trận Tổ quốc khu phố Đáp Cầu và Thị xã Bắc Ninh. Ông mất ngày 22-6, thọ gần 70 tuổi. Mộ táng tại Nghĩa trang Thanh Sơn, Thị Cầu.

Bà : Vũ Thị Lợi, người cùng làng. Sinh 2 trai, 3 gái: Thế Chiến, Thế Thức (Hưng), Thị Yến (chết trẻ), Thị Vượng, Thị Quỳnh.

   -    Ngô Thị Vượng, Ngô Thị Quỳnh đều lấy chồng người cùng làng.

Đời thứ 13

Ngô Thế Chiến, con trưởng Ông Ngô Thế Mậu và bà Vũ Thị Lợi. Ông đi bộ đội và chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Là Liệt sỹ, hy sinh năm 1968.

Đời thứ 13

Ngô Thế Hưng (Thức), con thứ hai ông Ngô Thế Mậu và bà Vũ Thị Lợi.

Bà : Đào Thị Hòa, người cùng làng. Sinh 2 trai, 2 gái: Thế Trí, Thị Hạnh, Thị Huyền, Thế Dương.

Đời thứ 12

Ngô Thế Mầu (Mậu con), con thứ hai ông Ngô Thế Mâu và bà Vũ Thị Tý. Mất ngày 26-6, thọ 68 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối.

Sinh thời, ông vào Nam kiếm sống. Sau ra Bắc theo các chủ thầu xây dựng cầu cống. Do sức khỏe yếu ông về làng làm nghề thủ công. Ông tích cực nghiên cứu về lịch sử.

Bà : Nguyễn Thị Nương, mất sớm, không có con.

Bà hai : Nguyễn Thị Phú, quê ở Đa Phúc, sinh 1 trai: Thế Thắng.

Đời thứ 13

Ngô Thế Thắng, con độc nhất ông Ngô Thế Mầu và bà ...

Bà: Nguyễn Thị Hồng. Sinh 2 trai, 1 gái : Thế Tuấn, Thị Thủy, Thế Thanh.

Đời thứ 11

Ngô Thế Tuất, con trai thứ hai ông Ngô Thế Cau và bà Nguyễn Thị Phố. Mất ngày 08-7 năm Kỷ Sửu (31-8-1949). Mộ táng tại Đồng Bối.

Ông là công nhân Nhà máy giấy Đáp Cầu. Kháng chiến ông làm thợ xeo giấy ở làng Bầu, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Bà: Trương Thị Tháu, người cùng làng, Bà làm công việc nội trợ và buôn bán. Sinh 3 trai, 1 gái : Thế Chinh, Thế Thuật, Thế Hùng, Thị Hợp.

   -    Ngô Thị Hợp, thợ tiện, lấy Nguyễn Văn Cử, cán bộ tổ chức Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Thái Nguyên.

Đời thứ 12

Ngô Thế Chinh, con cả ông Ngô Thế Tuất và bà Trương Thị Tháu. Ông là thợ nguội Nhà máy giấy Đáp Cầu, sau làm ở Nhà máy giấy Xavanakhet (Lào). Kháng chiến, ông vào bộ đội, là Trung đội trưởng, chiến đấu ở Cămpuchia. Ông bị ốm và mất ngày 05-11 năm Mậu Tý (05-12-1948).

Đời thứ 12

Ngô Thế Thuật, sinh ngày 05-8-1928 (20-6 năm Mậu Thìn), con thứ hai ông Ngô Thế Tuất và bà Trương Thị Tháu. Năm 1944 là công nhân Nhà máy giấy Đáp Cầu. Kháng chiến, ông theo Nhà máy lên Chợ Chu (TháI Nguyên). Hòa bình lập lại là công nhân Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Thái Nguyên. Sau được điều làm công tác công đoàn. Từ 1961-1968 là Phó Thư ký Liên hiệp công đoàn tỉnh Thái Nguyên. Tốt nghiệp Đại học Kinh tế công nghiệp năm 1968. Đầu năm 1968 được điều chuyên trách công tác Đảng. Tham gia 4 khóa BCH Đảng bộ tỉnh Bắc Thái, trong đó có 2 khóa làm Trưởng ban Tổ chức, Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra Đảng. Cuối năm 1987 nghỉ hưu.

Bà : Nguyễn Thị Bào, sinh năm 1931 (Tân Mùi), người làng Yên Mẫn, xã Kinh Bắc, Thị xã Bắc Ninh. Làm việc tại Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Thái Nguyên từ năm 1949 cho đến năm 1980 thì nghỉ hưu. Sinh 3 gái, 1 trai : Nguyệt Nga, Tú Lan, Thị Liên, Thế Toản.

   -    Ngô Nguyệt Nga, sinh năm 1957. Chồng là Tống Sơn Hà. Cả hai đều là kỹ sư chăn nuôi, cán bộ nhà nước. Sinh 1 trai, 1 gái : Tống Sơn Huy (1980), Tống Diệu Linh (1982)

   -    Ngô Thu Lan, sinh năm 1960, giáo viên cấp II. Chồng là Nguyễn Trọng Tiến, giáo viên Trường Đoàn Đội Trung ương. Sinh 1 trai, 1 gái : Nguyễn Tiến Dũng (1983), Nguyễn Thị Thảo Đan (2000)

   -    Ngô Thị Liên, sinh năm 1963. Chồng là Lê Huy Cường, cán bộ nhà nước. Sinh 1 gái, 1 trai : Lê Thu Trang, Lê Đức Bình.

Đời thứ 13

Ngô Thế Toản, sinh năm 1973, con ông Ngô Thế Thuật và bà Nguyễn Thị Bào.

Bà : Nguyễn Thị Ngọc Hường, sinh năm 1976. Sinh 1 gái : Thanh Ngọc (2003)

Đời thứ 12

Ngô Thế Hùng, sinh năm 1940 (Canh Thìn), con thứ ba ông Ngô Thế Tuất và bà Trương Thị Tháu. Là công nhân nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Thái Nguyên. Năm 1960 được điều về Nhà máy giấy Việt Trì. Tốt nghiệp Kỹ sư chế tạo máy tại Đại học Bách khoa khóa 1964-1968. Sau đó được điều vào quân đội đến năm 1990 thì nghỉ hưu với hàm Thiếu tá.

Bà: Vũ Thị Thảo, người cùng làng, là cán bộ ngành thương nghiệp tại Công ty ăn uống thị xã Bắc Ninh từ 1980 đến năm 1993 thì nghỉ hưu. Sinh 2 gái, 1 trai: Thị Hiền, Thị Hà, Thế Hiếu.

Đời thứ 13

Ngô Thế Hiếu, con ông Ngô Thế Hùng và bà Vũ Thị Thảo.

Đời thứ 11

Ngô Thế Sáu, con út ông Ngô Thế Cau và bà Nguyễn Thị Phố. Mất ngày 19-5 năm Giáp Thân (09-7-1944), thọ trên 50 tuổi. Mộ táng tại ...

Bà : Trần Thị Thư, người cùng làng. Mất ngày ..., thọ trên 60 tuổi. Mộ táng tại ... Sinh 1 trai, 1 gái : Thế An, Thị Hồng.

Ông là thợ may, bà buôn bán.

Đời thứ 12

Ngô Thế An, con ông Ngô Thế Sáu và bà Trần Thị Thư.  

Bà: ..., sinh 1 trai, 1 gái.