video mạng phần cứng
Bìa và lời chú bản Gia phả họ Ngô Đáp Cầu do cụ NGÔ TRỌNG TỐ biên soạn năm 1877

Ngành thứ mười hai - Chi Ất

ĐỜI THỨ TÁM

NGÔ THẾ BỀN, thuỵ Thịnh An, con trai duy nhất ông Ngô Thế Vựng và bà Vũ Thị Đán.

Bà: Hoàng Thị Tầu, hiệu Diệu Tân. Sinh 1 trai: Thế Cấp.

Mộ ông bà táng tại Đồng Bối.

Đời thứ 9

Ngô Thế Cấp, còn gọi là Cả Tài, con duy nhất ông Ngô Thế Bền và bà Hoàng Thị Tầu.

Bà: Nguyễn Thị Cõn, hiệu Diệu Thư, người cùng làng. Sinh 4 trai, 3 gái:  Thế Chẩn, Thế Liễm, Thế Hài, Thế Khiết, Thị Min (bà Cai Tạo), Thị Được, Thị Ý.

Đời thứ 10

Ngô Thế Chẩn, thuỵ Phúc Thịnh, con trai trưởng ông Ngô Thế Cấp và bà Nguyễn Thị Cõn. Ông được thưởng Cửu phẩm.

Bà: Vũ Thị Tỉn. Sinh 3 gái, 1 trai: Thị Tới, Thị Nhỡ, Thị Thanh, Thế Tế.

Bà hai: Nguyễn Thị Nhu. Sinh 1 gái: Thị Hiền.

Đời thứ 11

Ngô Thế Tế, sinh năm 1929, con trai duy nhất ông Ngô Thế Chẩn và bà Vũ Thị Tỉn. Mất năm 2002.

Bà: Vũ Thị Cân, người cùng làng. Sinh 4 trai, 1 gái: Thế Bằng, Thế Ngọc, Thế Phương, Thế Bắc, Thị Oanh.

- Ngô Thị Oanh, sinh năm 1964. Chồng là Hoàng Kim Thuần, người cùng làng. Sinh 2 gái: Hoàng Trang Liên, Hoàng Trang Kiên.

Đời thứ 12

Ngô Thế Bằng, sinh năm 1957, con trai trưởng ông Ngô Thế Tế và bà Vũ Thị Cân.

Bà: Hoàng Thị Tuyết, sinh năm 1959, người cùng làng, là công nhân Công ty may X2. Sinh 1 trai, 2 gái: Thế Tùng (1981), Thị Thu (1983), Thị Lan (1985).

- Ngô Thị Thu, sinh năm 1983, công nhân may Đáp Cầu. Chồng là Trần Văn Dương, sinh năm 1981, công nhân nhà máy Thuốc lá Bắc Sơn, người cùng làng. Sinh 2 gái.

- Ngô Thị Lan, sinh năm 1985, nhân viên. Chồng là Nguyễn Văn Hoạch, sinh năm 1984, người làng Thống, Quế Võ. Kinh doanh xây dựng và lái xe. Sinh 2 gái, 1 trai: Nguyễn Hà My (2013), Nguyễn Ngọc Diệp (2017), Nguyễn Nhật Minh (2019).

Đời thứ 12

Ngô Thế Ngọc, sinh năm 1959, con trai thứ hai ông Ngô Thế Tế và bà Vũ Thị Cân. Tốt nghiệp Đại học. Tổng biên tập Báo Hội nghệ sỹ sân khấu và điện ảnh Hà Nội, đã nghỉ hưu.

Bà: Ngô Thị Thuỷ, sinh năm 1963, quê Hà Nội, cán bộ Công ty may X40 và công tác tại Tổng liên đoàn lao động Hà Nội, đã nghỉ hưu. Sinh 1 trai, 2 gái: Thế Thương (1989, mất sớm), Thị Phương Anh (1991) Đại học Luật, Thị Hoàng Anh (1996) sinh viên đại học.

Đời thứ 12

Ngô Thế Phương, sinh năm 1966, con trai thứ ba ông Ngô Thế Tế và bà Vũ Thị Cân. Độc thân.

Đời thứ 12

Ngô Thế Bắc, sinh ngày 27-11-1969, con trai thứ tư (út) ông Ngô Thế Tế và bà Vũ Thị Cân. Mất vì tai nạn giao thông ngày 14-10 năm Đinh Hợi (23-11-2007), hưởng dương 39 tuổi.

Đời thứ 10

Ngô Thế Liễm, con trai thứ hai ông Ngô Thế Cấp và bà Nguyễn Thị Cõn.

Bà: Nguyễn Thị Nhuần, người cùng làng. Sinh 3 trai, 4 gái: Thế Vinh, Thế Lực, Thế Lễ, Thị Chử, Thị Bé, Thị Quế, Thị Thọ.

Đời thứ 11

Ngô Thế Vinh, sinh năm 1913, con trai trưởng ông Ngô Thế Liễm và bà Nguyễn Thị Nhuần. Mất ngày 01-9 năm Đinh Mão (23-10-1987), mộ tại nghĩa trang Đồng Bối, Đáp Cầu.

Bà: Vũ Thị Năm, sinh năm 1912. Sinh 2 trai, 5 gái: Thế Hiển, Thế Liêu, Thị Nhiên (1938), Thị Khang (1944), Thị Hiến (1948), Thị Liên (1949), Thị út (1954). Mộ tại nghĩa trang Đồng Bối, Đáp Cầu.

- Ngô Thị Nhiên, sinh 1938, mất 01-1990. Mộ tại nghĩa trang Bát Tràng, Hà Nội.

- Ngô Thị Khang, sinh 1944, mất 4-2017. Mộ tại nghĩa trang Yên Kỳ, Hà Nội.

- Ngô Thị Hiến, sinh 1948, công nhân Xí nghiệp may 2 Đáp Cầu. Đã nghỉ hưu.

- Ngô Thị Liên, sinh 1949, bị câm điếc, nội trợ.

- Ngô Thị Út, sinh 1954, công nhân Xí nghiệp may X2 Đáp Cầu. Đã nghỉ hưu.

Đời thứ 12

Ngô Thế Hiển, sinh năm 1930, con trai trưởng ông Ngô Thế Vinh và bà Vũ Thị Năm. Mất ngày 23-6 năm Đinh Hợi (05-8-2007) tại Hà Nội, thọ 78 tuổi. Mai táng tại Nghĩa trang Đồng Bối.

Bà: Nguyễn Thị Thịnh, sinh năm 1936, mất ngày 13-2 năm Đinh Hợi (31-3-2007) tại Hà Nội, thọ 72 tuổi. Mai táng tại Nghĩa trang Đồng Bối. Sinh 2 trai, 4 gái: Thế Hảo, Thế Thảo, Thị Hợp, Thị Hà, Thị Hồng, Thị Thu.

Đời thứ 13

Ngô Thế Hảo, sinh năm 1955, con trai trưởng ông Ngô Thế Hiển và bà Nguyễn Thị Thịnh. Mất ngày 28/12 năm Canh Dần (31-01-2011) tại Hà Nội, hưởng dương 55 tuổi. Mai táng tại Nghĩa trang Đồng Bối-Đáp Cầu.

Bà: Nguyễn Thị Dung, sinh năm 1958. Sinh hai con trai Ngô Thế Hưng (1982) và Ngô Thế Hoàng (1984)

Đời thứ 14

Ngô Thế Hưng, sinh năm 1982, con trai trưởng ông Ngô Thế Hảo và bà Nguyễn Thị Dung.

Bà Nguyễn Thị Hạnh, sinh năm 1988, sinh 01 con trai: Ngô Minh Đức (9/10/2012).

Đời thứ 15

Ngô Minh Đức, sinh năm 2012, con trai ông Ngô Thế Hưng và bà Nguyễn Thị Hạnh.

Đời thứ 14

Ngô Thế Hoàng, sinh năm 1984, con trai thứ ông Ngô Thế Hảo và bà Nguyễn Thị Dung.

Đời thứ 13

Ngô Thế Thảo, sinh năm 1972, công tác tại Tổng công ty Vận tải Hà Nội, con trai thứ hai ông Ngô Thế Hiển và bà Nguyễn Thị Thịnh.

Bà: Nguyễn Thị Thanh Tâm, sinh năm 1973, giáo viên trường Tiểu học Văn Chương Hà Nội, sinh 01 gái và 01 trai: Ngô Ngọc Trâm (1997), đỗ đại học trường Đại học Hà Nội năm 2015 và Ngô Minh Tuấn (2002).

Đời thứ 12

Ngô Thế Liêu, sinh năm 1952, con trai thứ ông Ngô Thế Vinh và bà Vũ Thị Năm.

Bà: Nguyễn Thị Hải, sinh năm 1953. Sinh 01 trai 02 gái: Thế Sơn, Thùy Giang, Thanh Thúy.

Đời thứ 13

Ngô Thế Sơn, sinh năm 1987, con trai trưởng của ông Ngô Thế Liêu và bà Nguyễn Thị Hải.

Bà: Nguyễn Thị Duyên, sinh năm 1989, sinh 01 trai: Ngô Gia Hưng (2015).

Đời thứ 14

Ngô Gia Hưng, sinh năm 2015, con trai ông Ngô Thế Sơn và Bà Nguyễn Thị Duyên.

Đời thứ 11

Ngô Thế Lực, sinh năm 1918, con trai thứ hai ông Ngô Thế Liễm và bà Nguyễn Thị Nhuần. Mất năm 1991.

Bà: Trần Thị Chúc, sinh năm 1921, quê Gia Lâm. Sinh 1 trai, 4 gái: Thế Huy, Thị Ánh (1952), Thị Quang (1954), Thị Minh (1957), Thị Mai (1960).

Đời thứ 12

Ngô Thế Huy, sinh năm 1945, con trai duy nhất ông Ngô Thế Lực và bà Trần Thị Chúc.

Bà: Phạm Thị Thảnh, sinh năm 1950, quê Hà Nam, là công nhân Cảng Đáp Cầu, đã nghỉ hưu. Sinh 2 trai, 1 gái: Thế Tùng, Thanh Tuấn (1977-1982), Thị Ngân Hà (1983).

Đời thứ 13

Ngô Thế Tùng, sinh năm 1975, con trai trưởng ông Ngô Thế Huy và bà Phạm Thị Thảnh.

Đời thứ 11

Ngô Thế Lễ, con trai thứ ba ông Ngô Thế Liễm và bà Nguyễn Thị Nhuần.

Bà: Lê Thị Thuyết. Sinh 5 trai, 6 gái: Thế Đạt, Thế Trương, Thế Cường, Thế Việt, Thế Lực, Thị Nga, Thị Thu, Thị Dung, Thị Mai, Thị Thuỷ, Thị Hường.

Đời thứ 10

Ngô Thế Hài (còn gọi là Ba Dài), sinh năm 1896, con trai thứ ba ông Ngô Thế Cấp và bà Nguyễn Thị Cõn. Mất năm 1933, hưởng dương 38 tuổi.

Bà: Trương Thị Nhớn, sinh năm 1887. Mất năm 1989, thọ 93 tuổi. Sinh 2 trai, 3 gái: Thế Toàn, Tuyền Lâm, Thị Ngân, Thị Thoa, Thị Hạnh.

- Ngô Thị Ngân, sinh năm 1921, mất năm 1953, mộ tại Đồng Bối. Sống độc thân.

- Ngô Thị Thoa, sinh năm 1925, mất năm 1978. Chồng Vũ Quang Sum người cùng làng, sinh năm 1925, mất năm 2011. Sinh 3 trai, 1 gái: Vũ Quang Tân (1951), Vũ Thị Hòa (1953), Vũ Quang Bình (1955), Vũ Quang An (1958). Mộ ông bà tại nghĩa trang Đồng Bối, Đáp Cầu.

- Ngô Thị Hạnh (Bé), sinh năm 1931, mất năm 2022, mộ tại nghĩa trang Đồng Bối, Đáp Cầu. Chồng Hoàng Kim Chính, sinh năm 1921, người cùng làng. Sinh 4 trai, 1 gái: Hoàng Kim Phúc, Hoàng Kim Thuận, Hoàng Kim Hòa, Hoàng Thị Hợp, Hoàng Kim Thành.

Bà hai: Hạ Thị Nhỡ, sinh năm 1899. Sinh 1 trai : Thế Lương.

Đời thứ 11

Ngô Thế Toàn, sinh năm 1918, con trai trưởng ông Ngô Thế Hài và bà Trương Thị Nhớn.

Bà: Cù Thị Sơn, sinh năm 1925. Mất năm 2000. Sinh 2 gái, 7 trai: Thị Thuỷ (1942)Thị Hải (1944), Thế Chiến, Thế Thắng, Thế Hoàn, Thế Thành, Thế Thinh (sinh 1958, mất sớm), Thế Giang, Thế Trường.

Đời thứ 12

Ngô Thế Chiến, sinh năm 1948, con trai trưởng ông Ngô Thế Toàn và bà Cù Thị Sơn.

Bà: Nguyễn Thị Thơm, quê Việt Yên, Bắc Giang. Sinh 1 gái, 2 trai: Thị Hương (1976), Thế Minh (1977), Thế Đức (1980).

Đời thứ 12

Ngô Thế Thắng, sinh năm 1952, con trai thứ hai ông Ngô Thế Toàn và bà Cù Thị Sơn. Mất năm 2001.

Bà: Nguyễn Thị Tâm, sinh năm 1953. Sinh 1 trai: Thế Điệp (1982)

Đời thứ 12

Ngô Thế Hoàn, sinh năm 1954, con trai thứ ba ông Ngô Thế Toàn và bà Cù Thị Sơn. Vào bộ đội và hy sinh tại Biên giới phía Bắc, là liệt sỹ.

Đời thứ 12

Ngô Thế Thành, sinh năm 1956, con trai thứ tư ông Ngô Thế Toàn và bà Cù Thị Sơn.

Bà: Nguyễn Thị Lợi, sinh năm 1958. Sinh 1 trai, 1 gái: Thế Anh (1983), Thị Chúc (1996).

Đời thứ 12

Ngô Thế Giang, sinh năm 1963, con trai thứ năm ông Ngô Thế Toàn và bà Cù Thị Sơn.

Bà: Nguyễn Thị Hoà, sinh năm 1965, công nhân Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn. Sinh 2 trai : Thế Tuấn (1986), Thế Tú (1986).

Đời thứ 12

Ngô Thế Trường, sinh năm 1965, con trai thứ sáu (út) ông Ngô Thế Toàn và bà Cù Thị Sơn.

Bà: Nguyễn Thị Hải, sinh năm 1966. Sinh 1 trai, 1 gái: Thế Hiếu, Thị Quỳnh Anh.

Đời thứ 11

Ngô Tuyền Lâm, sinh năm 1928, con trai thứ hai ông Ngô Thế Hài và bà Trương Thị Nhớn. Mất ngày 16-8 năm Nhâm Thìn (01-10-2012) tại Đáp Cầu, thọ 84 tuổi. Hỏa táng tại Đài Hóa thân Hoàn vũ Văn Điển Hà Nội. Tro cốt mai táng tại Nghĩa trang Đồng Bối Đáp Cầu.

Bà: Trương Thị Phấn, sinh năm 1931. Mất ngày 04 tháng Chạp năm Bính Tuất (22-1-2007) tại Đáp Cầu. Mai táng tại Nghĩa trang Đồng Bối. Sinh 2 trai, 3 gái: Thế Việt, Thế Nam, Thuý Trầm (1963), Thuý Nga (1965), Thuý Hồng (1977).

Đời thứ 12

Ngô Thế Việt, sinh năm 1957, con trai trưởng ông Ngô Tuyền Lâm và bà Trương Thị Phấn.

Bà: Nguyễn Thị Nhàn, quê Bắc Ninh. Sinh 2 gái, 1 trai: Thuỳ Ninh (1986), Hoài Thu (1994), Việt Anh (2000).

Đời thứ 12

Ngô Thế Nam, sinh năm 1960, con trai thứ hai Ngô Tuyền Lâm và bà Trương Thị Phấn.

Bà: Vũ Thị Oanh. Sinh 3 gái, 2 trai: Hồng Nhung (1982), Thuý Nguyệt (1984), Thuý Vân (1986), Thế Lộc (1987), Thế Hiếu (1990).

Đời thứ 11

Ngô Thế Lương, sinh năm 1935, con trai thứ ba (út) ông Ngô Thế Hài và bà Hạ Thị Nhỡ.

Bà: Nguyễn Thị Tý. Sinh 3 trai : Thế Thắng, Thế Long, Thế Hưng (mất sớm).

Đời thứ 12

Ngô Thế Thắng, sinh năm 1977, con trai trưởng ông Ngô Thế Lương và bà Nguyễn Thị Tý.

Đời thứ 12

Ngô Thế Long, sinh năm 1980, con trai thứ hai ông Ngô Thế Lương và bà Nguyễn Thị Tý.

Đời thứ 10

Ngô Thế Khiết, sinh năm 1902, con trai thứ tư (út) ông Ngô Thế Cấp và bà Nguyễn Thị Cõn. Mất năm Tân Mão (1951), hưởng dương 50 tuổi. Sinh thời ông là nhà giáo tiểu học, nên thường gọi là ông Giáo Khiết.

Bà: Hữu Thị Chính, sinh 1904, quê Tân ấp, Thị Cầu. Mất năm Canh Ngọ (1990), thọ 87 tuổi. Mộ ông bà táng ở Đồng Bối. Sinh 1 gái, 4 trai : Thị Hiền (1925-1955, độc thân, mộ táng ở Đồng Bối), Thế Thăng, Thế Cát, Thế Gia, Thế Khánh.

Đời thứ 11

Ngô Thế Thăng, sinh năm 1931, con trai trưởng ông Ngô Thế Khiết và bà Hữu Thị Chính. Ông nguyên là Phó giám đốc Công ty thông tin điện tử hàng hải Việt Nam. Nghỉ hưu năm 1991.

Bà: Nguyễn Thị Thu, sinh năm 1943, quê Đức Thọ, Hà Tĩnh. Mất năm 1999, hưởng dương 57 tuổi. Mộ táng tại Đồng Bối. Sinh thời bà là nhân viên kế toán Quốc doanh đánh cá Hạ Long. Sinh 2 gái, 1 trai: Thị Diễm, Thị Lệ Thuý, Thế Minh.

- Ngô Thị Diễm, cử nhân sư phạm, giáo viên Trường Trung học Phổ thông Trần Văn Ơn, Hải Phòng. Có chồng. Sinh 1 trai, 1 gái.

- Ngô Thị Lệ Thuý, cử nhân ngoại ngữ, công tác tại Công ty Nhà đất Hà Nội. Có chồng. Sinh 1 trai.

Đời thứ 12

Ngô Thế Minh, sinh năm 1970, con trai duy nhất ông Ngô Thế Thăng và bà Nguyễn Thị Thu. Ông là cử nhân Sư phạm ngoại ngữ, Giám đốc vùng của Công ty dầu nhờn CALTEX.

Bà: Phạm Thị Ngọc Bích, sinh năm 1968, con ông Phạm Ngọc Tùng (1935) và bà Phan Thị Bạch Yến (1940-1994). Bà là Cử nhân Sư phạm ngoại ngữ, Giám đốc chi nhánh Công ty TNHH Thương mại Hoàng Lan tại Hà Nội. Sinh 1 gái, 1 trai: Thị Minh Trang (1995), Thế Anh (1998).

Đời thứ 11

Ngô Thế Cát, sinh năm 1933, con ông Ngô Thế Khiết và bà Hữu Thị Chính.

Bà: Nguyễn Thị Nghiêm, sinh năm 1945. Mất năm 1979, hưởng dương 35 tuổi. Mộ táng tại Nghĩa trang Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Sinh thời bà buôn bán quần áo, vải vóc và nội trợ. Sinh 6 gái, 3 trai: Thị Khang (1963), Thế Trinh (1964), Thị Ninh (1965), Thế Tường (1966), Thế Thuỵ (1967), Thị An (1968), Thị Toàn (1969), Thị Liên (1970), Thị Vân (1971).

Đời thứ 12

Ngô Thế Trinh, sinh năm 1964, con trai trưởng ông Ngô Thế Cát và bà Nguyễn Thị Nghiêm.

Bà: Trần Thị Thu Hương. Sinh 1 gái, 1 trai: Thị Thu Dương, Trần Anh Khoa.

Đời thứ 12

Ngô Thế Tường, sinh năm 1966, con trai thứ hai ông Ngô Thế Cát và bà Nguyễn Thị Nghiêm.

Bà: Nguyễn Thị Dung. Sinh 1 gái: Thị Anh Phương.

Đời thứ 12

Ngô Thế Thụy, sinh năm 1967, con trai thứ ba ông Ngô Thế Cát và bà Nguyễn Thị Nghiêm.

Bà : Nguyễn Thị Kim Oanh. Sinh 1 gái: Thị Phương Nguyên.

Đời thứ 11

Ngô Thế Gia, sinh năm 1937, con trai thứ ba ông Ngô Thế Khiết và bà Hữu Thị Chính. Ông nguyên là cán bộ Đội địa hình (Liên đoàn Địa chất). Đã nghỉ hưu năm 1970 tại Thị xã Phú Thọ.

Bà: Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1940, nguyên là công nhân cơ khí thuộc Xí nghiệp cơ khí nông nghiệp Phú Thọ, đã nghỉ hưu. Sinh 2 gái, 3 trai: Thị Như Hoa (15-12-1970), Thế Sơn (1972), Thế Bình (1975), Thị Phương (08-6-1979), Thế Trung (1981)

Đời thứ 12

Ngô Thế Sơn, sinh năm 1972, con trai trưởng ông Ngô Thế Gia và bà Nguyễn Thị Thanh. Ông là thợ điện Chi nhánh điện Việt Trì.

Bà: Nguyễn Hương Giang. Sinh 1 gái, 1 trai: Thị Hoài Linh (05-02-1998), Thế Trường (29-10-2007).

Đời thứ 12

Ngô Thế Bình, sinh ngày 15-02-1976, con trai thứ hai ông Ngô Thế Gia và bà Nguyễn Thị Thanh. Ông là nhân viên tin học.

Bà: Lê Thị Hạnh, sinh ngày 10-10-1981, nhân viên kế toán Xí nghiệp may Thị xã Phú Thọ. Sinh 1 gái, 1 trai: Huyền Trang (18-10-2003), Tuấn Khê (31-10-2017).

Đời thứ 12

Ngô Thế Trung, sinh 15-11-1981, con trai thứ ba ông Ngô Thế Gia và bà Nguyễn Thị Thanh. Ông là thợ điện Chi nhánh điện Phú Thọ.

Bà: Vương Thị Thu Huyền, sinh tháng 3-1981. Sinh 1 gái, 1 trai: Thu Hà (17-01-2008), Quang Hiến (15-12-2015).

Đời thứ 11

Ngô Thế Khánh, sinh năm 1943, con trai thứ tư (út) ông Ngô Thế Khiết và bà Hữu Thị Chính. Ông nguyên là Giảng viên môn toán Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Nghỉ hưu năm 2003.

Bà: Vũ Thị Tâm, sinh năm 1947, quê Đáp Cầu, con ông Vũ Đình Nhã (1924-1989) và bà Vũ Thị Bồng (1926-1989). Bà nguyên là kỹ sư điện của Đội sửa chữa thiết bị điện, Công ty truyền tải điện 1 Hà Nội. Sinh 2 trai: Thế Phong, Thế Chiến.

Đời thứ 12

Ngô Thế Phong, sinh năm 1975, con trai trưởng ông Ngô Thế Khánh và bà Vũ Thị Tâm. Ông là kỹ sư điện thuộc Công ty truyền tải điện 1 Hà Nội.

Bà: Nguyễn Thị Thu Hương, sinh năm 1975. Sinh 1 trai : Thế An (1999).

Đời thứ 12

Ngô Thế Chiến, sinh năm 1982, con trai thứ hai ông Ngô Thế Khánh và bà Vũ Thị Tâm.